Showing posts with label TÀI LIỆU ÔN THI. Show all posts
Showing posts with label TÀI LIỆU ÔN THI. Show all posts

Friday, December 11, 2015

Ý NGHĨA, HẠN CHẾ VÀ TÁC ĐÔNG CỦA CÁC CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN THỜI CẬN ĐẠI

- Ý nghĩa của cuộc cách mạng tư sản
            Các cuộc Cách mạng tư sản có tần suất ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của lịch sử thế giới. Trước hết, nó xác lập sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản đối với chế độ phong kiến trên phạm vi thế giới, mở ra một thời đại mới của lịch sử loài người – thời cận đại.

Sự thắng lợi đó mang lại cho giai cấp tư sản những bước đi vững chắc trong việc thúc đẩy nền kinh tế tư bản phát triển. Muốn tồn tại và phát triển thì giai cấp tư sản phải “luôn luôn cách mạng hóa công cụ sản xuất” [1]. Do vậy, ngay sau khi nắm quyền lực trong bộ máy nhà nước, giai cấp tư sản buộc phải tiến hành cuộc các mạng công nghiệp mà khởi đầu là nước Anh, sau đó lan rộng ra toàn bộ Âu – Mỹ.  Điều này dẫn đến những thay đổi quan trọng về kĩ thuật và xã hội.
            Về mặt kĩ thuật, đó sự phát minh, sáng chế ra máy móc trong công nghiệp, như: máy dệt vào những năm 80 của thế kỷ XVIII, máy hơi nước được sáng chế vào năm 1784, các nhà máy sử dụng máy hơi nước được xây dựng vào những năm 80 của thế kỷ XVIII, tàu chạy bằng hơi nước vào năm 1814… Những phát minh, sáng chế đã đưa sản xuất từ công trường thủ công chuyển sang máy móc trong các công xưởng.
            Về mặt xã hội, đã hình thành hai giai cấp cơ bản của xã hội tư bản chủ nghĩa – giai cấp tư sản công nghiệp và giai cấp vô sản.
            Ngoài điều vừa trình bày ở trên, mỗi cuộc cách mạng đều giữ vị trí và ý nghĩa nhất định đến sự phát triển của nước mình và thế giới.
Cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Nederland vào thế kỷ XVI là cuộc Cách mạng tư sản đầu tiên trên thế giới. Nó đã lật đổ ách thống trị của vương triều phong kiến Tây Ban Nha, khai sinh ra nhà nước tư sản đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Nó đã quét sạch những vật cản của chế độ phong kiến chuyên chế phản động Tây Ban Nha, tạo điều kiện cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển. Chỉ sau một thời gian ngắn, Hà Lan trở thành cường quốc hàng đầu về thương mại và thuộc địa của châu Âu và thế giới lúc bấy giờ. Sự thắng lợi của Cách mạng tư sản Hà Lan đánh dấu sự khởi đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới: thời đại các cuộc Cách mạng tư sản và suy vong của chế độ phong kiến.
            Cuộc Cách mạng tư sản Anh vào thế kỷ XVII đã lật đổ quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời cùng với nền thống trị của quý tộc phong kiến và Giáo hội Anh, xác lập chế độ xã hội mới tiến bộ hơn – tư bản chủ nghĩa, mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất.
            Cách mạng tư sản Anh không chỉ có ý nghĩa đối với nước Anh mà còn có ảnh hưởng sâu rộng tới châu Âu nói riêng và thế giới nói chung. Marx đã nhận xét rằng cuộc Cách mạng Anh thế kỷ XVII và Cách mạng Pháp 1789 như sau: “Các cuộc cách mạng 1648 và 1789 không phải là những cuộc cách mạng Anh và Pháp; đó là những cuộc cách mạng theo phong cách châu Âu. Chúng không phải là thắng lợi của một giai cấp nhất định của xã hội đối với chế độ chính trị cũ; mà chúng là sự tuyên bố một chế độ chính trị cho xã hội mới ở châu Âu. Trong các cuộc cách mạng đó, giai cấp tư sản đã thắng lợi; nhưng lúc bấy giờ, thắng lợi của giai cấp tư sản có nghĩa là thắng lợi của một chế độ xã hội mới, thắng lợi của chế độ sở hữu tư sản đối với chế độ sở hữu phong kiến, của tính dân tộc đối với tính địa phương, của tính cạnh tranh đối với chế độ phường hội, của việc phân nhỏ sở hữu đối với chế độ con trưởng, của sự thống trị của kẻ sở hữu ruộng đất đối với sự thống trị mà ruộng đất đã đem lại cho kẻ sở hữu, của sự khai sáng đối với sự mê tín, của gia đình đối với tên của dòng họ, của sự tháo vát đối với sự lười biếng anh hùng, của pháp quyền tư sản đối với những đặc quyền thời trung cổ” [2].
            Sự thắng lợi của cuộc Cách mạng tư sản mang tầm vóc châu Âu này đã dọn đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ ở Anh, tạo điều kiện cho nước Anh giành bá quyền thế giới về công thương nghiệp và thuộc địa. Gần một thế kỷ sau, trên đất nước Anh lại diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp, làm thay đổi bộ mặt nước Anh và thế giới. Nền dân chủ tư sản mà cách mạng Anh mang lại đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới châu Âu và Bắc Mỹ, góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh chống phong kiến, chống áp bức của nhiều dân tộc.
            Tuy nhiên, do lực lượng lãnh đạo cách mạng là liên minh giai cấp tư sản – quý tộc mới, cho nên cuộc Cách mạng tư sản Anh còn nhiều hạn chế (như không xóa bỏ triệt để thế lực phong kiến, không giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân nghèo).
            Trải qua hơn 8 năm chiến đấu của nhân dân (1775 - 1783), cuộc Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ đã giành được thắng lợi. Đây là một sự kiện lịch sử có ý nghĩa to lớn. Kết quả lớn nhất là xóa bỏ nền thống trị của thực dân Anh, giành độc lập hoàn toàn cho các bang, khai sinh ra quốc gia dân tộc tư sản đầu tiên ở châu Mỹ.
            Tuy về hình thức, đây là một cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc, nhưng về bản chất lại là cuộc Cách mạng tư sản lần thứ nhất của nước Mỹ. Bởi lẽ, cuộc chiến tranh không chỉ giải quyết nhiệm vụ giải phóng dân tộc, mà nó còn giải quyết những nhiệm vụ kinh tế - xã hội của một cuộc cách mạng dân chủ tư sản: thủ tiêu nền thống trị của giai cấp quý tộc địa chủ Anh, xóa bỏ sự tồn tại của những hình thức bóc lột tiền phong kiến và những yếu tố phong kiến trong nông nghiệp, mở đường cho sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
            Theo K. Marx, “Cuộc chiến giành độc lập của nhân dân Bắc Mỹ là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với giai cấp tư sản châu Âu, trước hết đã góp phần thúc đẩy cuộc Cách mạng tư sản Pháp bùng nổ vào cuối thế kỷ XVIII” [3]. Đồng thời, nó còn cổ vũ nhân dân sinh sống ở khu vực Mỹ latinh - đang rên xiết dưới ách thống trị của thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, đứng lên đấu tranh giành độc lập.  
Cách mạng Pháp 1789 mà đỉnh cao là nền chuyên chính dân chủ cách mạng Jacobin đã thực hiện khá triệt để các nhiệm vụ của một cuộc Cách mạng tư sản và dân chủ. Cuộc cách mạng vĩ đại này đã lật đổ nền quân chủ chuyên chế phong kiến cùng với mọi quan hệ và lề thói thối nát của nó đã từng ngự trị ở Pháp nhiều thế kỷ. Đồng thời nó còn tuyên bố một chế độ chính trị của xã hội mới ở châu Âu với cơ cấu tổ chức mới cùng với các quyền tự do dân chủ. Người nông dân được giải phóng khỏi các nghĩa vụ phong kiến và thuế một phần mười (thuế thập phân) của Nhà thờ, vấn đề ruộng đất được giải quyết tương đối thỏa đáng, tạo cơ sở cho sự hình thành một tầng lớp nông dân tiểu tư hữu đông đảo.
Cách mạng tư sản Pháp đã xóa bỏ những cản trở đối với công thương nghiệp như hàng rào thuế quan, các phường hội phong kiến, mọi hạn chế của vương quyền đều bị bãi bỏ, thị trường dân tộc thống nhất được hình thành, mở đường cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Pháp phát triển mạnh mẽ. Những tập quán riêng của các tỉnh, những đặc quyền địa phương cũng bị xóa bỏ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình hình thành dân tộc Pháp, một quốc gia dân tộc hiện đại đã xuất hiện trên bản đồ chính trị châu Âu.
            Cách mạng 1789 về cơ bản đã quét sạch rác rưởi của chế độ phong kiến ở Pháp và ảnh hưởng của nó cũng góp phần làm cho chế độ phong kiến bị lung lay ở khắp châu Âu. Cách mạng tư sản Pháp mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại thắng lợi và củng cố của chủ nghĩa tư bản ở những nước tiên tiến châu Âu và châu Mỹ.
            Giai cấp tư sản Pháp đã lãnh đạo cách mạng thành công, song cách mạng thắng lợi lại nhờ một phần rất quan trọng bởi sự tham gia tích cực, với tinh thần dũng cảm, kiên cường của đông đảo quần chúng nhân dân. Chính quần chúng nhân dân là lực lượng đóng vai trò nòng cốt trong việc tao ra các biến cố lịch sử (14-7-1789, 10-8-1792, 31-5 và 2-6-1793). Dưới áp lực của quần chúng nhân dân, cách mạng đã phát triển đi lên đỉnh cao nhất của nó – nền chuyên chính dân chủ cách mạng Jacobin (từ 2-6-1793 đến 27-7-1794).
            Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử toàn thế giới, suốt thế kỷ XIX. Thông qua các hành động chống lại trật tự thế giới mới, Cách mạng Pháp đã thức tỉnh những lực lượng dân chủ và tiến bộ khắp các châu lục dũng cảm đứng dậy chống lại chế độ phong kiến chuyên chế, chống lại ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân. Chính vì vậy, đây là một cuộc cách mạng có ảnh hưởng sâu rộng, có ý nghĩa quốc tế lớn lao. Cách mạng tư sản Pháp 1789 đã được V.I. Lenin gọi là cuộc “Đại cách mạng”.
            Quá trình thống nhất Đức là một sự kiện lịch sử tiến bộ, vì nó mở đường cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Đức, đưa Đức lên hàng các quốc gia tiên tiến trên thế giới, góp phần làm thay đổi cán cân lực lượng ở châu Âu và thế giới trong những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, con đường thống nhất “từ trên xuống” bằng các cuộc chiến tranh là phản dân chủ, phản cách mạng. Kể từ sau năm 1871, nước Đức tư sản – Iunker luôn luôn là một thành trì phản động, một nguồn gốc quan trọng nhất của chủ nghĩa quân phiệt xâm lược hiếu chiến, một lò lửa của các cuộc chiến tranh thế giới sau này.
            Cuộc Nội chiến 1861 - 1865 là cuộc cách mạng giải phóng xã hội tiếp theo cuộc chiến tranh giành độc lập. Về bản chất, nó là cuộc Cách mạng tư sản lần thứ hai trong lịch sử nước Mỹ. Giai cấp tư sản công nghiệp miền Bắc đã biết dựa vào lực lượng cách mạng của quần chúng nhân dân để tiêu diệt chế độ nô lệ miền Nam, dọn đường cho công nghiệp tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ hơn; đồng thời còn đảm bảo cho sự thắng lợi của con đường phát triển kiểu Mỹ trong nông nghiệp. Nhờ vậy, khoảng 30 năm sau cuộc Nội chiến, nước Mỹ đã vượt các nước châu Âu, vươn lên đứng đầu thế giới về công nghiệp.
            Cuộc Minh Trị Duy tân là một mốc lớn trong lịch sử Nhật Bản. Nó có tính chất, ý nghĩa của một cuộc Cách mạng tư sản, bởi vì xóa bỏ những cản trở của chế độ phong kiến để xác lập chế độ tư bản chủ nghĩa làm cho Nhật thoát khỏi vòng nô dịch của tư bản nước ngoài, rồi chuyển lên giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
            Cách mạng Tân Hợi có ý nghĩa to lớn, vì nó kết thúc nền thống trị hàng nghìn năm của chế độ quân chủ phong kiến, làm cho tư tưởng dân chủ cách mạng thấm sâu vào nhân dân Trung Quốc. Tư tưởng Trung Sơn và Cách mạng Tân Hợi cũng có ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước châu Á.
- Ảnh hưởng Ý nghĩa của cuộc cách mạng tư sản
            Các cuộc Cách mạng tư sản có tần suất ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của lịch sử thế giới. Trước hết, nó xác lập sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản đối với chế độ phong kiến trên phạm vi thế giới, mở ra một thời đại mới của lịch sử loài người – thời cận đại. Sự thắng lợi đó mang lại cho giai cấp tư sản những bước đi vững chắc trong việc thúc đẩy nền kinh tế tư bản phát triển. Muốn tồn tại và phát triển thì giai cấp tư sản phải “luôn luôn cách mạng hóa công cụ sản xuất” [4]. Do vậy, ngay sau khi nắm quyền lực trong bộ máy nhà nước, giai cấp tư sản buộc phải tiến hành cuộc các mạng công nghiệp mà khởi đầu là nước Anh, sau đó lan rộng ra toàn bộ Âu – Mỹ.  Điều này dẫn đến những thay đổi quan trọng về kĩ thuật và xã hội.
            Về mặt kĩ thuật, đó sự phát minh, sáng chế ra máy móc trong công nghiệp, như: máy dệt vào những năm 80 của thế kỷ XVIII, máy hơi nước được sáng chế vào năm 1784, các nhà máy sử dụng máy hơi nước được xây dựng vào những năm 80 của thế kỷ XVIII, tàu chạy bằng hơi nước vào năm 1814… Những phát minh, sáng chế đã đưa sản xuất từ công trường thủ công chuyển sang máy móc trong các công xưởng.
            Về mặt xã hội, đã hình thành hai giai cấp cơ bản của xã hội tư bản chủ nghĩa – giai cấp tư sản công nghiệp và giai cấp vô sản.
            Ngoài điều vừa trình bày ở trên, mỗi cuộc cách mạng đều giữ vị trí và ý nghĩa nhất định đến sự phát triển của nước mình và thế giới.
Cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Nederland vào thế kỷ XVI là cuộc Cách mạng tư sản đầu tiên trên thế giới. Nó đã lật đổ ách thống trị của vương triều phong kiến Tây Ban Nha, khai sinh ra nhà nước tư sản đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Nó đã quét sạch những vật cản của chế độ phong kiến chuyên chế phản động Tây Ban Nha, tạo điều kiện cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển. Chỉ sau một thời gian ngắn, Hà Lan trở thành cường quốc hàng đầu về thương mại và thuộc địa của châu Âu và thế giới lúc bấy giờ. Sự thắng lợi của Cách mạng tư sản Hà Lan đánh dấu sự khởi đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới: thời đại các cuộc Cách mạng tư sản và suy vong của chế độ phong kiến.
            Cuộc Cách mạng tư sản Anh vào thế kỷ XVII đã lật đổ quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời cùng với nền thống trị của quý tộc phong kiến và Giáo hội Anh, xác lập chế độ xã hội mới tiến bộ hơn – tư bản chủ nghĩa, mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất.
            Cách mạng tư sản Anh không chỉ có ý nghĩa đối với nước Anh mà còn có ảnh hưởng sâu rộng tới châu Âu nói riêng và thế giới nói chung. Marx đã nhận xét rằng cuộc Cách mạng Anh thế kỷ XVII và Cách mạng Pháp 1789 như sau: “Các cuộc cách mạng 1648 và 1789 không phải là những cuộc cách mạng Anh và Pháp; đó là những cuộc cách mạng theo phong cách châu Âu. Chúng không phải là thắng lợi của một giai cấp nhất định của xã hội đối với chế độ chính trị cũ; mà chúng là sự tuyên bố một chế độ chính trị cho xã hội mới ở châu Âu. Trong các cuộc cách mạng đó, giai cấp tư sản đã thắng lợi; nhưng lúc bấy giờ, thắng lợi của giai cấp tư sản có nghĩa là thắng lợi của một chế độ xã hội mới, thắng lợi của chế độ sở hữu tư sản đối với chế độ sở hữu phong kiến, của tính dân tộc đối với tính địa phương, của tính cạnh tranh đối với chế độ phường hội, của việc phân nhỏ sở hữu đối với chế độ con trưởng, của sự thống trị của kẻ sở hữu ruộng đất đối với sự thống trị mà ruộng đất đã đem lại cho kẻ sở hữu, của sự khai sáng đối với sự mê tín, của gia đình đối với tên của dòng họ, của sự tháo vát đối với sự lười biếng anh hùng, của pháp quyền tư sản đối với những đặc quyền thời trung cổ” [5].
            Sự thắng lợi của cuộc Cách mạng tư sản mang tầm vóc châu Âu này đã dọn đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ ở Anh, tạo điều kiện cho nước Anh giành bá quyền thế giới về công thương nghiệp và thuộc địa. Gần một thế kỷ sau, trên đất nước Anh lại diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp, làm thay đổi bộ mặt nước Anh và thế giới. Nền dân chủ tư sản mà cách mạng Anh mang lại đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới châu Âu và Bắc Mỹ, góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh chống phong kiến, chống áp bức của nhiều dân tộc.
            Tuy nhiên, do lực lượng lãnh đạo cách mạng là liên minh giai cấp tư sản – quý tộc mới, cho nên cuộc Cách mạng tư sản Anh còn nhiều hạn chế (như không xóa bỏ triệt để thế lực phong kiến, không giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân nghèo).
            Trải qua hơn 8 năm chiến đấu của nhân dân (1775 - 1783), cuộc Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ đã giành được thắng lợi. Đây là một sự kiện lịch sử có ý nghĩa to lớn. Kết quả lớn nhất là xóa bỏ nền thống trị của thực dân Anh, giành độc lập hoàn toàn cho các bang, khai sinh ra quốc gia dân tộc tư sản đầu tiên ở châu Mỹ.
            Tuy về hình thức, đây là một cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc, nhưng về bản chất lại là cuộc Cách mạng tư sản lần thứ nhất của nước Mỹ. Bởi lẽ, cuộc chiến tranh không chỉ giải quyết nhiệm vụ giải phóng dân tộc, mà nó còn giải quyết những nhiệm vụ kinh tế - xã hội của một cuộc cách mạng dân chủ tư sản: thủ tiêu nền thống trị của giai cấp quý tộc địa chủ Anh, xóa bỏ sự tồn tại của những hình thức bóc lột tiền phong kiến và những yếu tố phong kiến trong nông nghiệp, mở đường cho sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
            Theo K. Marx, “Cuộc chiến giành độc lập của nhân dân Bắc Mỹ là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với giai cấp tư sản châu Âu, trước hết đã góp phần thúc đẩy cuộc Cách mạng tư sản Pháp bùng nổ vào cuối thế kỷ XVIII” [6]. Đồng thời, nó còn cổ vũ nhân dân sinh sống ở khu vực Mỹ latinh - đang rên xiết dưới ách thống trị của thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, đứng lên đấu tranh giành độc lập.  
Cách mạng Pháp 1789 mà đỉnh cao là nền chuyên chính dân chủ cách mạng Jacobin đã thực hiện khá triệt để các nhiệm vụ của một cuộc Cách mạng tư sản và dân chủ. Cuộc cách mạng vĩ đại này đã lật đổ nền quân chủ chuyên chế phong kiến cùng với mọi quan hệ và lề thói thối nát của nó đã từng ngự trị ở Pháp nhiều thế kỷ. Đồng thời nó còn tuyên bố một chế độ chính trị của xã hội mới ở châu Âu với cơ cấu tổ chức mới cùng với các quyền tự do dân chủ. Người nông dân được giải phóng khỏi các nghĩa vụ phong kiến và thuế một phần mười (thuế thập phân) của Nhà thờ, vấn đề ruộng đất được giải quyết tương đối thỏa đáng, tạo cơ sở cho sự hình thành một tầng lớp nông dân tiểu tư hữu đông đảo.
Cách mạng tư sản Pháp đã xóa bỏ những cản trở đối với công thương nghiệp như hàng rào thuế quan, các phường hội phong kiến, mọi hạn chế của vương quyền đều bị bãi bỏ, thị trường dân tộc thống nhất được hình thành, mở đường cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Pháp phát triển mạnh mẽ. Những tập quán riêng của các tỉnh, những đặc quyền địa phương cũng bị xóa bỏ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình hình thành dân tộc Pháp, một quốc gia dân tộc hiện đại đã xuất hiện trên bản đồ chính trị châu Âu.
            Cách mạng 1789 về cơ bản đã quét sạch rác rưởi của chế độ phong kiến ở Pháp và ảnh hưởng của nó cũng góp phần làm cho chế độ phong kiến bị lung lay ở khắp châu Âu. Cách mạng tư sản Pháp mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại thắng lợi và củng cố của chủ nghĩa tư bản ở những nước tiên tiến châu Âu và châu Mỹ.
            Giai cấp tư sản Pháp đã lãnh đạo cách mạng thành công, song cách mạng thắng lợi lại nhờ một phần rất quan trọng bởi sự tham gia tích cực, với tinh thần dũng cảm, kiên cường của đông đảo quần chúng nhân dân. Chính quần chúng nhân dân là lực lượng đóng vai trò nòng cốt trong việc tao ra các biến cố lịch sử (14-7-1789, 10-8-1792, 31-5 và 2-6-1793). Dưới áp lực của quần chúng nhân dân, cách mạng đã phát triển đi lên đỉnh cao nhất của nó – nền chuyên chính dân chủ cách mạng Jacobin (từ 2-6-1793 đến 27-7-1794).
            Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử toàn thế giới, suốt thế kỷ XIX. Thông qua các hành động chống lại trật tự thế giới mới, Cách mạng Pháp đã thức tỉnh những lực lượng dân chủ và tiến bộ khắp các châu lục dũng cảm đứng dậy chống lại chế độ phong kiến chuyên chế, chống lại ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân. Chính vì vậy, đây là một cuộc cách mạng có ảnh hưởng sâu rộng, có ý nghĩa quốc tế lớn lao. Cách mạng tư sản Pháp 1789 đã được V.I. Lenin gọi là cuộc “Đại cách mạng”.
            Quá trình thống nhất Đức là một sự kiện lịch sử tiến bộ, vì nó mở đường cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Đức, đưa Đức lên hàng các quốc gia tiên tiến trên thế giới, góp phần làm thay đổi cán cân lực lượng ở châu Âu và thế giới trong những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, con đường thống nhất “từ trên xuống” bằng các cuộc chiến tranh là phản dân chủ, phản cách mạng. Kể từ sau năm 1871, nước Đức tư sản – Iunker luôn luôn là một thành trì phản động, một nguồn gốc quan trọng nhất của chủ nghĩa quân phiệt xâm lược hiếu chiến, một lò lửa của các cuộc chiến tranh thế giới sau này.
            Cuộc Nội chiến 1861 - 1865 là cuộc cách mạng giải phóng xã hội tiếp theo cuộc chiến tranh giành độc lập. Về bản chất, nó là cuộc Cách mạng tư sản lần thứ hai trong lịch sử nước Mỹ. Giai cấp tư sản công nghiệp miền Bắc đã biết dựa vào lực lượng cách mạng của quần chúng nhân dân để tiêu diệt chế độ nô lệ miền Nam, dọn đường cho công nghiệp tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ hơn; đồng thời còn đảm bảo cho sự thắng lợi của con đường phát triển kiểu Mỹ trong nông nghiệp. Nhờ vậy, khoảng 30 năm sau cuộc Nội chiến, nước Mỹ đã vượt các nước châu Âu, vươn lên đứng đầu thế giới về công nghiệp.
            Cuộc Minh Trị Duy tân là một mốc lớn trong lịch sử Nhật Bản. Nó có tính chất, ý nghĩa của một cuộc Cách mạng tư sản, bởi vì xóa bỏ những cản trở của chế độ phong kiến để xác lập chế độ tư bản chủ nghĩa làm cho Nhật thoát khỏi vòng nô dịch của tư bản nước ngoài, rồi chuyển lên giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
            Cách mạng Tân Hợi có ý nghĩa to lớn, vì nó kết thúc nền thống trị hàng nghìn năm của chế độ quân chủ phong kiến, làm cho tư tưởng dân chủ cách mạng thấm sâu vào nhân dân Trung Quốc. Tư tưởng Trung Sơn và Cách mạng Tân Hợi cũng có ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước châu Á.
của cách mạng tư sản
            Các cuộc Cách mạng tư sản thời cận đại đã làm thay đổi toàn bộ diện mạo thế giới. Trước hết là xác lập quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển khiến cho giai cấp tư sản trong quá trình thống trị chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả thế hệ trước gộp lại. Không những vậy, nó tạo ra nền dân chủ và các thể chế nhà nước. Đó là một bước tiến vĩ đại trong sự phát triển của lịch sử xã hội loài người.
            Các cuộc Cách mạng tư sản diễn ra liên tiếp nhau, tạo thành chuỗi dây chuyền, cái sau kế tiếp cái trước, cái nọ kế tiếp cái kia để cuối cùng thay đổi bề mặt hành tinh.
            Cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Nederland vào thế kỷ XVI là cuộc cách mạng tư sản. Nó đã khai sinh ra nhà nước tư sản đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Thể chế nhà nước quân chủ lập hiến. Mô hình nhà nước này chứa đựng những dấu hiệu của một nền dân chủ đại nghị sau cuộc cách mạng tư sản là một sự tiến bộ trong đời sống chính trị châu Âu khi đó. Mô hình này đã ảnh hưởng đến tiến trình cách mạng tư sản Anh, sau đó cũng như thiết chế nhà nước tư sản của nhiều quốc gia trên thế giới.
            Cuộc Cách mạng tư sản Anh thành công đã có sức lan tỏa đối với lục địa châu Âu. Nó đã khai sinh ra chế độ dân chủ dưới hình thức tam quyền phân lập. Đây là sự gợi ý thực tiễn cho Montesquieu sáng lập ra học thuyết tam quyền phân lập. Mô hình nhà nước thời cận đại phỏng theo nguyên tắc này là một sáng tạo vĩ đại của loài người lúc bấy giờ; Sự thành công của Cách mạng tư sản là tiền đề thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp Anh. Mà cuộc Cách mạng công nghiệp Anh lại ảnh hưởng ra toàn thế giới, thúc đẩy phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thắng thế trên toàn thế giới.
            Cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ với Bản Tuyên ngôn độc lập do T. Jefferson khởi thảo, lần đầu tiên trên thế giới đưa ra quyền con người, là mẫu hình của bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng tư sản Pháp sau này. Tinh thần của Chiến tranh giành độc lập Bắc Mỹ đã ảnh hưởng trực tiếp đến Mỹ latinh khiến cho thế kỷ XIX, lục địa này bùng nổ hàng loạt các cuộc đấu tranh nhằm lật đổ ách thống trị Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha dẫn đến sự ra đời nhiều quốc gia độc lập. Hơn nữa, sau khi giành độc lập, các quốc gia thuộc khu vực Mỹ latinh đã mô phỏng thể chế nhà nước cộng hòa của quốc gia láng giềng phía Bắc để xây dựng đất nước.
            Đại Cách mạng tư sản Pháp với các đại diện tiêu biểu của Trào lưu Triết học Ánh sáng, như Montesquieu, Voltaire, Rousseau, Diderot v.v.. trở thành bó đuốc soi đường không chỉ cho nhân dân Pháp mà toàn thể nhân loại. Chính Bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ được viết dưới ánh sáng của các nhà tư tưởng Pháp. Sau đó, đến lượt mình, nó lại ảnh hưởng đến bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp.
            Những tư tưởng của Cách mạng Pháp nêu trong văn kiện trên đã được dịch và in không những ở châu Âu mà cả ở châu Mỹ, nhất là khu vực Mỹ latinh. Khắp nơi, Cách mạng Pháp đã thức tỉnh những lực lượng dân chủ và tiến bộ đứng lên chống chế độ phong kiến chuyên chế đang kìm hãm sự phát triển của xã hội. Cách mạng Pháp đã tác động mạnh mẽ đến nhiều nước trên thế giới. Ở những nước mà chủ nghĩa tư bản đã có những bước phát triển trong lòng xã hội phong kiến thì tác động mạnh mẽ và có kết quả rõ rệt. Ở những nước chưa đủ điều kiện lật đổ chế độ phong kiến thì nó kích thích những lực lượng tiến bộ thức tỉnh và giác ngộ.
            Tại Bỉ, quốc gia láng giềng của Pháp, là nơi chịu ảnh hưởng của cách mạng nhất và trực tiếp nhất. Mùa thu 1789, ở đây phong trào giải phóng dân tộc chống ách thống trị của Áo đã mang tính chất một cuộc Cách mạng tư sản. Cách mạng Bỉ không thành công, vì quần chúng nhân dân, nhất là nông dân, không hăng hái tham gia.
            Tại những quốc gia Tây Âu, một số vùng của Đức, Cách mạng Pháp đã kích động phong trào chống phong kiến hoặc có ảnh hưởng lớn lao về mặt tinh thần. Nông dân nhiều vùng ở Đức đã đứng lên bạo động chống phong kiến, có nơi xảy ra vũ trang khởi nghĩa. Giới trí thức Đức nhiệt liệt ca ngợi Cách mạng Pháp. Nhiều nhà thơ, nhà triết học, nhà sử học Đức xem đây như một biến cố vĩ đại của thời đại.
            Trong các nước của Đế chế Áo, Cách mạng Pháp đã kích động phong trào giải phóng của những dân tộc bị thống trị như, Hungari (ở đây phong trào mạnh lên trong những năm 1789-1794). Trí thức tiến bộ Tiệp Khắc thức tỉnh, không cam tâm chịu để cho đế chế Áo nô dịch nhân dân họ. Nhiều người đề xướng phong trào phục hưng Tiệp Khắc; hàng loạt tổ chức được thành lập nhằm phát triển văn hóa dân tộc.
            Ở Ba Lan, Italy, Hy Lạp…. Cách mạng Pháp cũng có ảnh hưởng. Cách mạng Pháp tác động trực tiếp đến những giới tiến bộ và cả đối với thế hệ sau.
            Tại khu vực Mỹ latinh, do Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha thống trị, tin tức về Cách mạng Pháp bùng nổ và thắng lợi đã tác động mạnh mẽ đến quần chúng nhân dân. Người da trắng, người da đỏ, người da đen, người lai đều chịu ách thống trị của nước ngoài. Cùng với ảnh hưởng của cuộc Chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ (cuối thế kỷ XVIII), Cách mạng Pháp đã thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc khu vực Mỹ latinh, nhất là Nam Mỹ. Tư tưởng của nhà triết học Pháp được thanh niên tiến bộ, như Simon Bolivar, Francisco de Miranda tiếp thu và nghiên cứu. Những thanh niên tiến bộ này sẽ là lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Mỹ latinh vào những thập niên đầu của thế kỷ XIX.
            Cách mạng Pháp đã được những lãnh tụ phong trào giải phóng dân tộc ở khu vực này hoan nghênh nhiệt liệt. Miranda (Venezuela) từng tham gia quân đội cách mạng Pháp và được phong sĩ quan cấp tướng. Không những vậy, nó đã tạo điều kiện cho phong trào giải phóng dân tộc ở những nước Nam Mỹ trở nên chín muồi. Trong mấy chục năm đầu thế kỷ XIX, ở đây đã bùng nổ và thắng lợi.
            Haiti, vốn thuộc địa của Pháp từ cuối thế kỷ XVII, đã tiến hành cách mạng để hưởng ứng những sự kiện đang diễn ra ở Pháp. Tháng 8-1791, cuộc khởi nghĩa bùng nổ do Toussaint Louverture lãnh đạo, đến đầu thế kỷ XIX mới bị dập tắt.
            Những cuộc chiến tranh cách mạng mà nước Pháp tiến hành đã truyền bá những tư tưởng dân chủ tiến bộ khắp châu Âu. Sau cuộc đảo chính tháng Sương mù (1799), Napoleon Bonarpart thiết lập chế độ độc tài quân sự, rồi lên ngôi hoàng đế và tiến hành chiến tranh xâm lược liên miên cho đến khi bị sụp đổ. Những cuộc chiến tranh này một mặt kích thích tinh thần dân tộc của những nước bị xâm lược (như Tây Ban Nha, Nga..); mặt khác về khách quan đã góp phần truyền bá tư tưởng của Cách mạng Pháp và giáng cho chế độ phong kiến lạc hậu những đòn chí tử. Hệ quả, suốt thế kỷ XIX, một loạt cách mạng tư sản bùng nổ ở châu Âu và Mỹ latinh.
            Công cuộc cải cách Minh Trị Duy tân đã có ảnh hưởng tới các quốc gia châu Á mà trước hết là Trung Quốc, nơi được xem thành trì vững chắc của chế độ phong kiến. Đúng 30 năm sau cải cách ở Nhật Bản, một phong trào Duy tân đã bùng nổ ở Trung Quốc do Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu lãnh đạo. Hai ông đã bắt chước mô hình Nhật Bản để tiến hành cải cách dưới đấng Minh Quân, Quang Tự. Tuy nhiên, do hoàn cảnh khách quan nên phong trào Duy tân nhanh chóng thất bại.
            Ở Việt Nam, công cuộc cải cách Nhật Bản đã có ảnh hưởng tới phong trào yêu nước vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Các sĩ phu phong kiến, nhất là Phan Bội Châu đã hướng đến Nhật Bản với lòng ngưỡng vọng sâu sắc. Chính Phan đã bỏ nhiều công sức để tìm con đường cứu nước tại xứ sở Mặt trời mọc.
            Cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc có tiếng vang lớn đối với các quốc gia châu Á. Đối với Việt Nam, cách mạng Tân Hợi với chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn đã khiến cho tư tưởng của Phan Bội Châu có sự chuyển biến rõ rệt: từ quân chủ lập hiến sang chế độ cộng hòa.
            Ảnh hưởng của các cuộc Cách mạng tư sản thật là lớn lao. Ngoài ý nghĩa to lớn của nó đối với sự phát triển của lịch sử nhân loại và tầm vóc quốc tế thì Cách mạng tư sản là trường học vĩ đại đối với nhân dân các nước, chuẩn bị cho họ những tri thức mới, tiến bộ để tiến lên những nấc thang cao hơn. Chính sự giác ngộ của quần chúng nhân dân thông qua Cách mạng tư sản đã làm tiền đề cho họ tiếp tục tiếp thu học thuyết kinh tế xã hội của Mác – Lênin. 
- Hạn chế của cách mạng tư sản
            Bên cạnh những thành tựu đạt được trong vấn đề dân tộc và dân chủ, Cách mạng tư sản còn bộc lộ nhiều hạn chế, trước hết đa số quần chúng nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ cũng như không được tham gia bàn bạc các công việc chung. Điều này được thể hiện qua số người tham gia bầu cử, hoạt động chính trị quan trọng của nhà nước tư sản. Tại Hà Lan, sau cuộc cách mạng, số người có đủ tư cách cử tri chỉ chiếm 0,2% dân số. Ở nước Anh, con số này chỉ 3,6% (khoảng 50.000 người) vào thời điểm cách mạng kết thúc [7]. Ở Mỹ, sau cuộc Chiến tranh giành độc lập, dân số của quốc gia tư sản đầu tiên ở Tây bán cầu có khoảng 3.000.000 người nhưng số cử tri tham gia bầu cử chỉ có 120.000 người. Đa phần nhân dân, chủ yếu người nô lệ da đen, người da đỏ, người da trắng nghèo không hội đủ tư cách cử tri.
Ngay cả, đối với Cuộc cách mạng Pháp cuối thế kỷ XVIII vốn được xem vĩ đại nhất thời Cận đại song số lượng cử tri có đủ tư cách tham gia vào đời sống chính trị đất nước không đáng kể. Điều này do chính quyền tư sản (phái Lập hiến) đã ban hành đạo luật chia công dân nước Pháp dựa trên tiêu chí tài sản, thành 2 loại “công dân tích cực” và “công dân tiêu cực” (22-12-1789) [8].
Ngoài hạn chế nêu trên, mỗi cuộc cách mạng tư sản đều tồn tại nhiều hạn chế, như ở Nederland, các mạng chỉ giành được thắng lợi ở nửa nước. Tuy thành lập chính thể cộng hòa nhưng người đứng đầu nhà nước vẫn nằm trong tay một dòng họ duy nhất – Orania, nắm giữ chức vụ hết đời này sang đời khác trong một thời gian khá dài.
Ở Anh, tính bảo thủ của cách mạng tư sản Anh được thể hiện rõ nét qua việc không giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân. Trái lại, giai cấp tư sản Anh sau khi giành được chính quyền thì đoạt luôn cả ruộng đất, nền sở hữu phong kiến về ruộng đất chuyển sang nền đại sở hữu tư sản mà không về tay nông dân. Về chính quyền, giai cấp tư sản cũng không dám duy trì nền cộng hòa mà phải liên minh với thế lực phong kiến để thiết lập nên nhà nước quân chủ lập hiến.
Ở Mỹ, sau cuộc chiến tranh giành độc lập, ruộng đất nằm trong tay tư sản và chủ nô. Chế độ nô lệ không bị xóa bỏ. Việc duy trì chế độ nô lệ đồn điền đã tác động rất lớn trong việc kìm hãm sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở nước Mỹ. Hệ quả của nó là dẫn đến việc đấu tranh giữa giai cấp tư sản công thương nghiệp miền Bắc và giới chủ đồn điền miền Nam. Cuộc đấu tranh đó đã kéo dài gần một thế kỷ và kết thúc vào năm 1865 bằng thắng lợi của giai cấp tư sản công thương nghiệp miền Bắc qua cuộc Nội chiến gay go, ác liệt.
Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII được coi là cuộc cách mạng tư sản triệt để nhất thời cận đại nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế của nó. Là cuộc cách mạng tư sản không hề có ý định tiêu diệt chế độ bóc lột nên cuộc cách mạng tư sản Pháp vẫn tiếp tục duy trì chế độ tư hữu mà tư hữu ở đây dành cho giai cấp tư sản.
Riêng ở 3 nước: Đức, Italy và Nhật, tính chất không triệt để của cách mạng tư sản được phản ánh qua việc duy trì sự thống trị của giai cấp quý tộc phong kiến và những đặc quyền quý tộc. Ở Nhật Bản đã không thủ tiêu ngay sở hữu phong kiến về ruộng đất để giải phóng nông dân mà ngược lại mặc nhiên thừa nhận những quan hệ sở hữu ruộng đất cũ ở nông thôn. Đây chính là điều làm cho nền công nghiệp của Nhật Bản không theo kịp tiến độ của nền kinh tế công thương nghiệp. Hơn nửa, tính chất không triệt để của cách mạng tư sản Nhật đã để lại cho nước Nhật những hậu quả làm cho nước Nhật phát triển theo con đường đặc biệt để trở thành một nước đế quốc phong kiến quân sự.
Ở Đức, sau cách mạng vẫn duy trì chế độ quân chủ và tàn dư phong kiến ở nông thôn, bảo đảm địa vị thống trị của nhà nước quân chủ địa chủ quý tộc Phổ. Con đường thống nhất đã đem lại kết quả tai hại đối với quần chúng nhân dân. Sự thống nhất bằng con đường phản dân chủ “từ trên xuống” đã là cho nước Đức trở thành dinh lũy phản động, là nguồn gốc quan trọng nhất của chủ nghĩa quân phiệt xâm lược và lò lửa của các cuộc chiến tranh sau này.
Ở Italy, giai cấp tư sản trong quá trình cách mạng không dám thật sự liên minh với giai cấp nông dân mà lại liên minh với giai cấp quý tộc tư sản hóa. Phái tư sản tự do luôn luôn tìm cách thỏa hiệp với bọn phong kiến lỗi thời và thế lực phản động bên ngoài để hạn chế phong trào của nhân dân. Ngay những người dân chủ tư sản cũng không triệt để giải quyết yêu cầu của quần chúng nhân dân về ruộng đất, không cương quyết giữ vững quyền lãnh đạo cách mạng và để mọi thành quả cách mạng rơi vào tay phái tự do. Chính vì vậy, triều đại Savoir và liên minh đại tư sản – quý tộc hóa do Victor Emmanuel và Cavour đại diện đã giành quyền thống trị Italy, sớm chấm dứt tiến trình cách mạng, duy trì nhiều tàn tích phong kiến trong chế độ kinh tế và chính trị ở Italy.
Ở Trung Quốc, cuộc cách mạng Tân Hợi vẫn còn hạn chế là do giai cấp tư sản non yếu, dao động, thỏa hiệp với các lực lượng phản cách mạng. Đường lối, chủ trương của Đồng minh hội còn thiếu chính xác, có những điểm mơ hồ chưa giải quyết triệt để vấn đề ruộng đất cho nông dân. Lực lượng phản cách mạng còn mạnh, chúng cấu kết với đế quốc để đàn áp cách mạng.
Có thể khẳng định rằng Cách mạng tư sản thời cận đại mang lại quyền lợi cho một ít số người còn đại bộ phận quần chúng nhân dân, những người mà ngày hôm qua vốn là đồng minh của giai cấp tư sản trong quá trình cách mạng thì quyền lợi của họ không được tính tới. Do đó, về nguyên tắc và bản chất, Cách mạng tư sản khác hẳn cách mạng vô sản: sự phân biệt của hai loại cách mạng này là “sợi chỉ đỏ xuyên qua thời đại”. Bàn về các cuộc Cách mạng tư sản thời Cận đại, trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, lãnh tụ Hồ Chí Minh, viết: “Cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa” [9]. Chỉ có cuộc cách mạng vô sản do giai cấp công nhân lãnh đạo mới đáp ứng được nguyện vọng của đa số quần chúng lao động bị áp bức. 
Do nhận thức được điều này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường cứu nước đúng cho dân tộc – không theo Cách mạng tư sản mà đi theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Chúng ta vững tin vào con đường mà Đảng và Bác Hồ đã xác định và kiên trì thực hiện đến thắng lợi.




[1] C. Mác và Ph. Ăng-ghen, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” trong Mác – Ăng-ghen, Tuyển tập, T. 1, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1981, tr. 544. 
[2] C. Mác, “Giai cấp tư sản và phản cách mạng” trong Mác và Ăng-ghen, Tuyển tập, T.1, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1981, tr. 654-655.
[3] Dẫn theo Nguyễn Văn Đức, Trần Văn Trị, Phạm Gia Hải, Phan Ngọc Liên, Lịch sử thế giới cận đại, Quyển 1 (1640-1870), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1971, tr.109.
[4] C. Mác và Ph. Ăng-ghen, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” trong Mác – Ăng-ghen, Tuyển tập, T. 1, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1981, tr. 544. 
[5] C. Mác, “Giai cấp tư sản và phản cách mạng” trong Mác và Ăng-ghen, Tuyển tập, T.1, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1981, tr. 654-655.
[6] Dẫn theo Nguyễn Văn Đức, Trần Văn Trị, Phạm Gia Hải, Phan Ngọc Liên, Lịch sử thế giới cận đại, Quyển 1 (1640-1870), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1971, tr.109.
[7] Micheal Beaud, Lịch sử chủ nghĩa tư bản từ 1500 đến 2000, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2002, tr.67.
[8] Theo đó, công dân tiêu cực là những người không có đủ điều kiện đóng thuế bầu cử được quy định, do đó bị tước quyền bầu cử và ứng cử; công dân tích cực là những người có đầy đủ điều kiện về tài chính và có quyền đầu phiếu. Công dân tích cực lại được chia làm 3 loại: (1) Quyền chọn cử tri thuộc về những người đàn ông từ 25 tuổi trở lên và đóng thuế trực thu trị giá tối thiểu bằng ba ngày công ở địa phương; (2) Cử tri, tức là những người bầu nghị sĩ, là những công dân nam đóng thuế trực thu tương đương 10 ngày công; (3) Chỉ có những cử tri đóng một khoản tiền tương đương 54 livres và có ruộng đất mới được ứng cử vào Quốc hội. 
[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập (1925-1930), T.2, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1981, tr.197. 

NHIỆM VỤ DÂN TỘC VÀ DÂN CHỦ TRONG CÁC BẢN TUYÊN NGÔN THỜI CẬN ĐẠI

Nhiệm vụ dân chủ là xóa bỏ chế độ phong kiến chuyên chế, xác lập nền dân chủ tư sản, gồm có
kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng là sự xác lập và mở đường cho sự phát triển vững chắc quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa; kiến trúc thượng tầng bao gồm 2 yếu tố: xác lập quyền công dân và xác lập thể chế nhà nước.

            - Xác lập quyền công dân tức là xác lập quyền tự do chính trị, quyền bình đẳng, đặc biệt là quyền tư hữu – một trong những quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Nhiệm vụ dân chủ này được nêu lên đầy đủ thông qua các bản Tuyên ngôn, Hiến pháp của các cuộc Cách mạng tư sản. Để hiểu hơn nhiệm vụ dân chủ, chúng ta lần lượt tìm hiểu một số bản Tuyên ngôn và Hiến pháp thời cận đại.
            * Trước hết là bản Tuyên ngôn về quyền hành (Declaration of Rights) của nước Anh được Quốc hội phê chuẩn ngày 22-2-1689 gồm 13 điều. Nó xác lập chế độ quân chủ lập hiến, thể chế nhà nước mà liên minh lãnh đạo cách mạng – giai cấp tư sản và tầng lớp quý tộc mới đã lựa chọn để bảo vệ quyền lợi của mình. Điểm nổi bật của nó là quy định quyền lực của Quốc hội hay có tên gọi khác là Nghị viện – cơ quan quyền lực cao nhất. Điều 9 quy định quyền hành của nghị sĩ, viết: “Tất cả mọi cuộc tranh luận và tất cả các văn kiện của Nghị viện không đưa đến bất cứ sự truy nã nào hay truy tố nào trước bất kỳ một toà án nào hay bất kỳ địa điểm nào của ngoài Nghị viện”. Điều này có nghĩa, tại Nghị viện, mọi nghị sĩ có quyền tự do ngôn luận mà không bị truy tố, miệt thị, kỳ thị như trước đây.
            Tuyên ngôn cũng khẳng định quyền lập pháp của Nghị viện: “cái gọi là quyền gác lại các đạo luật hay thực thi các đạo luật theo ý chí của vương triều mà không có sự tán đồng của Nghị viện là bất hợp pháp (điều 1)”; “quyền phổ biến các đạo luật hay thực thi các đạo luật do lệnh của triều đình là sự vi phạm pháp luật, sự thực thi như trước đây là bất hợp pháp (điều 2)”, điều này có nghĩa quyền lực của Nghị viện lớn hơn so với nhà vua; “Thu tiền mà không có sự đồng ý của Nghị viện là bất hợp pháp (điều 4)”; “động binh mà không có sự đồng ý của Nghị viện là trái pháp luật”. Điều này có nghĩa, trong vấn đề tài chính và huy động quân đội mà không có sự đồng ý của cơ quan lập pháp thì coi như không có hiệu lực.  
            Tóm lại, bản Tuyên ngôn về quyền hành của nước Anh là bản tuyên ngôn đầu tiên trên thế giới, đã tước bỏ quyền lập pháp của nhà vua và trao quyền đó vào tay của Nghị viên – cơ quan đại diện của nhân dân. Lưu ý rằng, nhân dân ở đây không phải tất cả mà chỉ có những người giàu có. Sau cuộc Cách mạng tư sản, ở Anh chỉ có 3,6% (50.000 cử tri) dân số có quyền bầu cử. Vì thế trong thế kỷ XIX, nước Anh liên tục có các cuộc đấu tranh đòi cải cách chế độ tuyển cử, hạ thấp những quy định và tài sản. Kết quả sau 3 lần cải cách thì chỉ có 12,5% (813.000) dân số trở thành người cử tri [1].
            * Tiếp theo là Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ được Đại hội lục địa lần thứ hai tại Philadelphia phê chuẩn ngày 4-7-1776. Bản Tuyên ngôn này do Thomas Jefferson chấp bút cùng với sự đóng góp tích cực của Benjamin Franklin.
T. Jefferson (1743-1826), sinh ra trong một gia đình điền chủ lớn tại Virginia. Ông tốt nghiệp luật khoa và hành nghề luật sư tại chính quê hương mình. Bản thân ông rất am hiểu về luật pháp nước Anh và chịu ảnh hưởng sâu sắc của trào lưu tư tưởng dân chủ châu Âu, nhất là của nước Pháp. Bản Tuyên ngôn mà ông viết được soi rọi bởi tia sáng của nền lập pháp nước Anh và tư tưởng Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII.
Ngoài việc chỉ trích tội ác của vua Anh và tuyên bố nền độc lập của nước Mỹ, Tuyên ngôn đề xướng những nguyên tắc sống còn của giai cấp tư sản trong thời đại mới.  Tuyên ngôn viết: “Chúng tôi cho rằng sự thật sau đây là hiển nhiển, tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền thiêng liêng không thể ai xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc” [2]. Đây là những quyền cơ bản mà các văn bản trước đây dưới chế độ phong kiến chưa đề cập tới.
Quyền tự do ở đây là quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, chống lại áp bức, tự do kinh doanh, tư hữu tài sản của mọi người dân. Quyền bình đẳng ở đây phải được hiểu là bình đẳng trước pháp luật không phân biệt giàu nghèo sang hèn. Tổng thống cũng như thường dân một khi phạm tội đều bị xét xử như nhau trước pháp luật.
Quyền được tham gia vào đời sống chính trị của đất nước. Tuy nhiên ở Mỹ vào cuối thế kỷ XVIII, quyền bình đẳng này không phải áp dụng cho mọi người bởi vì chỉ có người da trắng có tài sản mới có quyền bầu cử, còn phụ nữ, người da trắng nghèo, nô lệ da đen, người da đỏ không có quyền đó. Người ta tính rằng trong 3 triệu người Mỹ thời đó (1783) chỉ có 120.000 người có quyền bầu cử.
Quyền lực của chính phủ xuất phát từ nhân dân. Do vậy, Tuyên ngôn còn nêu rõ: “Trong trường hợp một chính quyền có sẵn nào đó trở nên thù địch với những mục đích trên thì nhân dân có quyền thủ tiêu những chính phủ đó, thành lập những chính phủ mới dựa vào nguyên tắc đã nêu. Với chính quyền như vậy, theo nguyện vọng của nhân dân phải đem lại an ninh và hạnh phúc nhiều nhất cho họ” [3].
Việc Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ được công bố đã tích cực động viên nhân dân Mỹ hăng hái tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập, bởi họ nhận thức rằng một khi đất nước độc lập, các quyền cơ bản nêu ra trong Tuyên ngôn mới có hiệu lực cho bản thân họ. Đồng thời, Bản tuyên ngôn đã ảnh hưởng lớn đến bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp vào năm 1789 và đưa đến sự ra đời của tư tưởng lập pháp của giai cấp tư sản châu Âu sau này. Bản Tuyên ngôn được liệt vào bộ luật quan trọng nhất trong lịch sử pháp chế của nhân loại mà cho đến này những tư tưởng của nó vẫn còn nguyên giá trị. 
            * Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp được Quốc hội lập hiến phê chuẩn ngày 26-8-1789. Bản Tuyên ngôn này do Sieyes khởi thảo với sự giúp đỡ của T. Jefferson (lúc bấy giờ T. Jefferson là công sứ của Mỹ tại Paris).
Sieyes (1748 - 1836) vốn là viện trưởng của tu viện Thiên Chúa giáo. Bản thân là cha cố song lại rất tích cực tham gia vào phong trào chính trị trước lúc cách mạng nổ ra. Trong thời gian hoạt động, ông cho xuất bản tác phẩm “Thế nào là đẳng cấp thứ Ba”, trong đó đã kích chế độ phong kiến chuyên chế và biện hộ cho nguyện vọng giành chính quyền của giai cấp tư sản. Năm 1789, Sieyes tham gia Hội nghị Ba cấp với tư cách là đại biểu của đẳng cấp thứ Ba. Tại đây, ông được Hội nghị ủy thác soạn thảo bản tuyên ngôn. Bản Tuyên ngôn mang tên Nhân quyền và Dân quyền gồm 17 điều, đề cập đến những vấn đề cơ bản sau: “Mọi người sinh ra và sống tự do và bình đẳng về các quyền, mọi sự phân biệt xã hội chỉ có thể đặt trên cơ sở lợi ích chung (điều 1); Mục đích của các tổ chức chính trị là việc gìn giữ các quyền tự nhiên và không thể bị tước bỏ của con người; các quyền này là quyền tự do, quyền sở hữu, quyền được an toàn và chống áp bức (điều 2); Nguyên tắc của mọi chủ quyền đặt chủ yếu ở các quốc gia. Không một tổ chức nào, không một cá nhân nào có thể sử dụng quyền hành mà không xuất phát đích xác từ nguyên tắc đó (điều 3); Tự do có nghĩa là có thể làm mọi điều không gây hại cho người khác. Như vậy, việc thực hành các quyền tự nhiên của mỗi người chỉ bị giới hạn trong sự đảm bảo các thành viên khác của xã hội được hưởng các quyền đó, các giới hạn này chỉ có thể do luật pháp quy định (điều 4)… Luật pháp là sự biểu thị ý chí chung, mọi công dân đều có quyền tham gia trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu của mình vào việc xây dựng luật pháp; luật pháp phải là như nhất đối với tất cả mọi người khi bảo hộ cũng như khi bị trừng phạt. Mọi công dân đều bình đẳng trước luật pháp nên đều có thể được giữ mọi chức vụ, mọi địa vị, mọi công vụ theo năng lực và không có bất cứ sự phân biệt nào khác ngoài đạo đức và tài năng của mỗi người (điều 6); bất cứ ai cũng chỉ có thể buộc tội, bị bắt, bị bắt giam giữ trong những trường hợp được pháp luật quy định và theo những hình thức do luật pháp quy định. Những kẻ yêu cầu, thúc đẩy, thi hành hoặc cho thi hành những mệnh lệnh độc đoán đều bị trừng phạt; nhưng mọi công dân nếu bị gọi hoặc bị bắt chiểu theo luật pháp, đều phải tuân theo tức khắc, và sẽ bị coi là phạm pháp nếu có hành vi kháng cự (điều 7);…. Việc tự do trao đổi về tư tưởng và ý kiến là một trong những quyền quý nhất của con người, mọi công dân có thể phát ngôn, viết hay tiến hành in ấn một cách tự do nhưng phải chịu trách nhiệm về sự lạm dụng quyền tự do đó trong những trường hợp được luật pháp quy định (điều 11); … Quyền sở hữu là một quyền bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có thể bị tước bỏ, trừ trường hợp có sự cần thiết công cộng đương nhiên đòi hỏi, sự cần thiết đó được xác định một cách hợp pháp và với điều kiện có sự bồi thường công bằng trước (điều 17)” [4].
            Trong tất cả các quyền thì quyền tư hữu là quan trọng nhất, bởi nó xác nhận tính chất tư sản của bản Tuyên ngôn. Quyền tư hữu này thấm nhuần tư tưởng của J. Rousseau – người đầu tiên đề xướng quyền tài sản công dân. Theo ông, quyền tài sản về phương diện nào đó còn quan trọng hơn cả quyền tự do. Với quyền tư hữu được xác lập trong Tuyên ngôn có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó đảm bảo cho sự phát triển xã hội, vì con người được quyền tư hữu của cải và cả sức lao động do mình làm ra. Có đảm bảo được quyền đó mới kích thích năng suất lao động của con người, của cải sản xuất ra mới nhiều. Ngoài ra, quyền tư hữu phải được bảo vệ để đảm bảo an ninh xã hội. Đây là một những yếu tố quan trọng của nền dân chủ tư sản thời cận đại.
            Quyền tư hữu còn được xác lập trong Bộ luật của Napoleon. Sau khi lên cầm quyền thông qua cuộc đảo chính tháng Sương mù (1799), Napoleon cho nghiên cứu, biên soạn và công bố bộ Pháp điển, gồm 3 phần: Dân luật (1804), Thương luật (1807) và Hình luật (1810) với tổng cộng 2881 điều. Những điều trong bộ luật này đều được xây dựng trên nguyên tắc tự do bình đẳng dành cho giai cấp tư sản, trong đó nhấn mạnh đến quyền tư hữu. Điều 554 viết: “Ngoài sự cấm chỉ của luật pháp, quyền sở hữu là quyền lợi chiếm hữu và sử dụng một cách tuyệt đối đối với của cải. Trừ khi phải trả thù lao cho lợi ích công cộng, không ai có thể bắt buộc người nào đó chuyển nhượng quyền sở hữu của mình” [5]. Có thể nói bộ luật của Napoleon, nhất là Dân luật, là thành quả của cách mạng tư sản, là bộ luật sớm nhất trong các quốc gia tư sản. Bộ luật này đã đi theo lưỡi gươm của Napoleon truyền bá nhiều vùng châu Âu có tác dụng phá hoại chế độ phong kiến, xúc tiến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Trong những năm tháng cuối đời, trong cuốn hồi ký, Napoleon viết: “Vinh quang của tôi không phải là đã đánh thắng 40 trận. Trận Waterloo đã xóa đi tất cả những kí ức thắng lợi đó. Nhưng có một thứ không bị mọi người quên lãng và tồn tại vĩnh viễn, đó là bộ luật dân sự của tôi” [6]. Có thể nói, bộ luật mà Napoleon công bố là hình mẫu của nền lập pháp của các quốc gia tư bản trên thế giới thời cận đại. Đánh giá về bộ luật này, Engels cho rằng: “Nó là bộ luật xã hội tư bản điển hình”.
            * Tư tưởng dân chủ không chỉ phổ biến trong phạm vi các nước tư bản Âu - Mỹ mà còn lan sang cả các quốc gia phương Đông. Quốc gia đi đầu trong việc mô phỏng nền dân chủ phương Tây thời cận đại là Nhật Bản. Sau cuộc cách mạng năm 1868, quyền lực Mạc phủ chuyển sang Thiên hoàng. Ngày 3-1-1868, chính phủ do vua Minh Trị (Meiji) đứng đầu, được thành lập. Ba tháng sau (6-4-1868), Minh Trị công bố 5 lời thề trước chính phủ và quốc dân:
            1. Mở nghị hội rộng rãi, mọi công việc đều theo công luận mà quyết định
            2. Trên dưới một lòng, ra sức sửa sang việc nước
            3. Từ công khanh đến thứ dân đều được toại chí để cho mọi người hết sống sẳng (bất bình)
            4. Bỏ hết thói hư, mối tệ để gắng sức duy tân, tự cường hợp theo đạo trời đất
            5. Cầu tri thức trên thế giới làm cho nước nhà lớn mạnh, vẽ vang [7].
            Điểm nổi bật của 5 lời thề này là quyền tự do ngôn luận của nhân dân được xác lập, ý nguyện của nhân dân là cơ sở để xây dựng mọi chính sách của nhà nước. Tư tưởng này còn được thể chế hóa trong Hiến pháp Minh Trị (1889) với nội dung: “Người dân… được hưởng các quyền tự do cư trú (điều 22), được pháp luật bảo vệ (điều 23, 24 và 25), được quyền tư hữu tài sản (điều 27), tự do ngôn luận, xuất bản, hội họp, lập hội (điều 29)” [8].
            Một quốc gia khác của phương Đông cũng noi theo nền dân chủ tư sản phương Tây. Đó là Trung Quốc, nơi được xem thành trì kiên cố nhất của chế độ phong kiến với những tư tưởng, học thuyết chà đạp quyền tự do của con người. Nó được biểu hiện trong Chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn. Chủ nghĩa Tam Dân vốn là sản phẩm ra đời trong cuộc đấu tranh chống phong kiến và đế quốc phương Tây của nhân dân Trung Quốc. Một trong những nội dung quan trọng của Chủ nghĩa Tam Dân là chủ nghĩa Dân quyền với hạt nhân vấn đề “dân chủ”. Theo Tôn Trung Sơn, một khi cách mạng thành công sẽ thành lập Chính phủ Dân chủ cộng hòa, lấy Tự do, Bình đẳng làm nền tảng.
            Tự do, theo lý giải của ông gồm ba nghĩa: Một là, quyền tự do của dân tộc, của quốc gia (không bị dân tộc khác, quốc gia khác thống trị); Hai là, quyền tự do về chính trị của nhân dân (như tự do hội họp, tự do lập hội, tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do cư trú, tự do tín ngưỡng v.v…); Ba là, tự do cá nhân một cách cực đoan, muốn làm gì thì làm, bất chấp tất cả. Tôn Dật Tiên chủ trương tự do với hàm nghĩa thứ nhất và thứ hai, phản đối tự do theo hàm nghĩa thứ ba. Tôn Trung Sơn chủ trương, nhân dân được hưởng mọi quyền tự do chính trị, “còn bọn bán nước hại dân, làm tay sai cho bọn đế quốc, quân phiệt thì dứt khoát không được hưởng những quyền tự do đó” [9].
            Bình đẳng theo nghĩa của Tôn Văn là không đồng nghĩa với việc tạo hóa đã cho mọi người quyền bình đẳng mà cho rằng con người đã tạo ra sự “bất bình đẳng” và “bình đẳng giả tạo”. Mục đích của cách mạng là phải đi tới sự “bình đẳng thực sự về chính trị”. Không chỉ có vậy, Tôn Trung Sơn còn đòi hỏi “bình đẳng về kinh tế”. Ông cho rằng: “Trước cách mạng Nga, chỉ có cách mạng chính trị, cách mạng đi, cách mạng lại cũng chỉ là sự thay đổi về hình thức chính thể, cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ đều như vậy. Hai chữ Democracie chỉ là câu nói đầu miệng của các nhà tư sản. Cho đến cách mạng Nga… mới có cách mạng kinh tế… làm cho người vô sản được giải phóng khỏi sự áp bức về minh tế… Đó mới là sự bình đẳng chân chính của nhân loại” [10]. 
            Như vậy, tư tưởng dân chủ tự do và bình đẳng được bắt nguồn Cách mạng tư sản Anh thế kỷ XVII và tư tưởng Khai sáng của Pháp thế kỷ XVIII. Nhiều người xem nó như làn sóng mới cuồn cuộn chảy khắp năm châu, cổ vũ quần chúng nhân dân lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế và được các nhà chính trị đúc kết thành những tuyên ngôn, văn bản luật pháp. Nền dân chủ và bình đẳng đó là sự sáng tạo vĩ đại của nhân loại, đánh dấu xã hội loài người bước lên một nấc thang văn minh và tiến bộ hơn.





[1] Michel Beaud, Lịch sử chủ nghĩa tư bản từ 1500 đến 2000, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2002, tr.168.
[2] H.S. Commger, Documents of American History, Vol 1, Appleton-Century-Crofts, Division of Meredith Corporation, New York, USA, 1968, p. 132.
[3] H.S. Commger, Sđd, 1968, tr.133.
[4] Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Sử học, Về Đại Cách mạng Pháp 1789, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1989, tr.156-159
[5] Đặng Thanh Tịnh (biên soạn), Lịch sử nước Pháp, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006, tr.130.
[6] Đặng Thanh Tịnh, Sđd, Hà Nội, 2006, tr.130.
[7] Nguyễn Khắc Ngữ, Nhật Bản Duy Tân dưới thời Minh Trị Thiên hoàng, Nxb Trình Bày, Sài Gòn, 1969, tr.73-74.
[8] Nguyễn Khắc Ngữ, Sđd, 1969, tr.134.
[9] Dẫn theo Nguyễn Huy Quý, “Tìm hiểu “Chủ nghĩa dân quyền” của Tôn Trung Sơn” trong Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Kim (Chủ biên), Một số chuyên đề lịch sử thế giới, Tập 2, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 114.
[10] Dẫn theo Nguyễn Huy Quý, Sđd, tr.115.