Showing posts with label LỊCH SỬ VIỆT NAM. Show all posts
Showing posts with label LỊCH SỬ VIỆT NAM. Show all posts

Tuesday, December 22, 2015

NHỮNG PHẨM CHẤT CAO ĐẸP CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM


Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập ngày 22 – 12 – 1944, mà tiền thân của nó là đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Lễ thành lập được tổ chức tại khu rừng Sam Cao nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám thuộc Châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng). Ban đầu gồm 34 chiến sỹ trong đó có 3 nữ với 34 khẩu súng các loại do Võ Nguyên giáp chỉ huy chung; Hoàng Sâm được chọn làm đội trưởng; Xích Thắng, tức Dương Mạc Thạch, làm chính trị viên, Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến; Lâm Cẩm Như, tức Lâm Kính, phụ trách công tác chính trị; lộc Văn Lùng  tức Văn Tiên làm quản lý.Từ đó đến nay trải qua hơn 70 năm hình thành và phát triển Quân đội nhân dân Việt Nam đã trải qua nhiều khó khăn gian khổ trong chiến tranh, lẫn thời bình luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Xứng đáng với lời khen ngợi của Bác Hồ vào ngày 22 – 12 -1964 “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với quân đội ta đã khẳng định rõ những phẩm chất cao quý, chức năng và nhiệm vụ của quân đội nhân dân Việt Nam.
Trước hết là, lòng trung thành vô hạn với tổ quốc, hy sinh vì độc lâp tự do của dân tộc, lí tưởng xã hội chủ nghĩa.
Từ khi ra đời đến nay, Quân đội ta luôn luôn thực hiện trọn vẹn chữ trung với nước, dù trong những hoàn cảnh vô cùng khó khăn thử thách. Đó là một phẩm chất cao quý của quân đội cách mạng, và cũng chỉ có các lực lượng vũ trang cách mạng mới có lòng trung thành vô hạn với lợi ích dân tộc. Ở mọi hoàn cảnh lịch sử, với các yêu cầu, nhiệm vụ của dân tộc trong bảo vệ Tổ quốc, Quân đội ta đã phát huy cao nhất lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, kiên định con đường phát triển mà dân tộc đã chọn. Ngay sau khi thành lập, Quân đội ta, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, đã đánh thắng hai trận mở đầu ở Phay Khắt và Nà Ngần với súng kíp và gậy tầm vông để rồi từ đó dần phát triển, cùng dân tộc giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sau đó cùng dân tộc đánh bại thực dân Pháp, đế quốc Mĩ hai kẻ thù có tiềm lực quân sự  mạnh nhất bấy giờ , làm cho nước nhà hoàn toàn thống nhất và tạo điều kiện để cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều đó chứng minh rằng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn luôn thấm nhuần sâu sắc các giá trị truyền thống của dân tộc, nhất là truyền thống đánh giặc giữ nước. Có thể nói, Quân đội ta từ dân tộc mà ra, hoà vào dân tộc, sát cánh cùng đại gia đình dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Phẩm chất trung với nước, với dân tộc, cùng những đóng góp to lớn của quân đội vào sự nghiệp vĩ đại của dân tộc vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của mối quan hệ máu thịt giữa dân tộc Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam. Sự hình thành, phát triển phẩm chất trung với nước, với dân tộc đã giúp cho Quân đội ta không chỉ mang bản chất giai cấp, bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn mang đậm tính dân tộc.
Thứ hai, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam, có thể nói là một trong những nguyên tắc cơ bản bất di, bất dịch đã trở thành truyền thống tốt đẹp của quân đội nhân dân Việt Nam. 
Thực tiễn đã chứng minh trải qua hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo Đảng và Bác, sự nuôi dưỡng của nhân dân, thì quân đội ta ngày càng trưởng thành và hùng mạnh hơn. Đảng ta rất tự hào về quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng. Vì rằng, từ Đội Tự vệ Đỏ trong phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh,Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đến Quân đội nhân dân Việt Nam hùng mạnh ngày nay, Quân đội ta luôn luôn trung thành sắt son với Đảng, là công cụ vũ trang, là lực lượng chính trị rất tin cậy của Đảng và Nhà nước, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó. Trong những hoàn cảnh khó khăn, toàn quân luôn luôn một ý chí ủng hộ và bảo vệ Đảng, thực hiện thắng lợi đường lối đối nội và đối ngoại của Đảng, sẵn sàng chiến đấu cao để chặn đứng mọi âm mưu, thủ đoạn của các lực lượng thù địch phá hoại Đảng và Nhà nước. Đó cũng là kết quả lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Điều đó được thể hiện trong bất luận hoàn cảnh nào, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng luôn luôn một lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Mục tiêu cách mạng của Đảng, chính là mục tiêu chiến đấu của quân đội; bản chất giai cấp công nhân của Đảng, chính là bản chất chính trị của quân đội, luôn thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, bảo vệ thành quả cách mạng.

Thứ ba, luôn hiếu với dân.
Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, quân với dân như cá với nước. Trong suốt những cuộc kháng chiến của dân tộc thì quân đội ta luôn nhận được sự giúp đỡ, yêu thương đùm bọc của nhân dân. Không chỉ trong thời chiến mà ngày cả trong thời bình cũng vậy khi nhắc đến bộ đội thì nhân dân luôn tin yêu vui vẻ giúp đỡ mọi việc, đủ để thấy tình cảm của nhân dân ta đối với quân đội như thế nào. Vì sao nhân dân ta lại tin yêu bộ đội như vậy để trả lời cho câu hỏi này không khó bởi vì: Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã anh dũng hy sinh trên các chiến trường vì sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi sự xâm lược là một chứng minh hùng hồn cho sự tin yêu đó. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội còn thường xuyên tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao nhận thức và thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, hết lòng giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế, văn hoá, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Hành động cùng ăn, cùng ở, cùng làm của cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã có tác dụng gắn bó Quân đội với nhân dân. Sự tham gia tích cực của quân đội vào nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo cho nhân dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, càng làm đẹp hơn, sâu sắc hơn truyền thống hiếu với dân.
Cuối cùng, quân đội nhân dân Việt Nam sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành khó khăn nào cũng vượt qua kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Trong lịch sử hào hùng của dân tộc ta không thiếu những tấm gương anh dũng hy sinh thân mình để hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo mọi hoạt động của tổ chức, phục sự cho Tổ quốc như anh hùng: Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng trở thành một trong những tấm gương tiêu biểu của quân đội nhân dân Việt Nam, hay anh hùng Phan Đình Dót lấy thân mình lấp lỗ châu mai để cho đồng đội tiến đánh đồi Him Lam được thuận lợi ... và nhiều tấm gương khác nữa. Sự dũng cảm hy sinh thân minh của các anh hùng nói riêng và quân đội Việt Nam nói chung là vô cùng to lớn, để đất nước ta có được như ngày hôm nay.
Tóm lại, đó là những phẩm chất tốt đẹp của quân đội ta mà thế hệ trẻ cần học tập và noi theo. Là thế hệ trẻ của đất nước để hướng tới ngày kỷ niệm 71 năm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt nam thì chúng ta hãy học tập và phát huy hơn nữa những truyền thống mà cha ông để lại, để khi nhắc đến dân tộc Việt Nam thì chúng ta luôn tự hào chúng ta là một dân tộc anh hùng, luôn có những anh hùng không kể thời bình hay thời chiến và anh húng trên tất cả các lĩnh vực
                                                                       VÕ THỊ ÁNH DIỆP
                                        SINH VIÊN LỚP SỬ 3A - KHOA LỊCH SỬ - ĐHSP HUẾ




CỐ THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG - MỘT TÊN TUỔI CÒN MÃI TRONG LÒNG NGƯỜI


Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông là một người học trò, người cộng sự thân thiết của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, là một nhà chính trị xuất sắc, có tầm nhìn chiến lược, tư duy sáng tạo, văn hóa uyên bác. Ông có rất nhiều công lao to lớn  đóng góp trong sự nghiệp giải phóng dân tộc ta và bảo vệ. Xây dựng đất nước trong thời kì chiến tranh và đổi mới. Một con người có nhân cách lớn ,dù có rất nhiều công lao lớn với dân tộc, nhưng ông luôn sống giản dị, chân thành, ông có tấm lòng nhân ái, bao dung,vị tha, luôn được người dân và bạn bè Quốc tế yêu mến.
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng (1906 – 2000), ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, một vùng đất giàu lòng yêu nước, nơi sản sinh ra biết bao nhiêu vị anh hùng của dân tộc ta.

Trong thời kì kháng chiến chống Pháp (1945-1954): Ông đã sớm có lòng yêu nước, căm thù giặc, sớm giác ngộ cách mạng. Khi còn đi học ở quê, ông đã biết đến Nguyễn Ái Quốc qua các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Tạp chí thư tín quốc tế.
Ông tham gia phong trào bãi khóa chống Pháp của học sinh, sinh viên năm 1925, khi Phan Châu Trinh  mất. Năm1926, ông sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện cách mạng do Hồ Chí Minh tổ chức và gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Đến năm 1929, ông được cử vào Kỳ bộ Nam Kỳ, rồi vào Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và tham gia đại hội của tổ chức này họp ở Hồng Kông. Tháng 7 năm 1929, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù, đày đi Côn Đảo. Năm 1936, ông ra tù, hoạt động ở Hà Nội. Năm 1940, ông bí mật sang Trung Quốc cùng với cố thủ tướng Võ Nguyên Giáp, gia nhập vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Ông là người có công lớn trong việc thành lập Mặt Trận Việt Minh ( tiền thân của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam). Tham gia đào tạo cán bộ của Mặt trận Việt Minh, phụ trách báo Việt Nam độc lập, chỉ đạo xây dựng Khu giải phóng, chuẩn bị lực lượng tiến tới Tổng khởi nghĩa; được Quốc dân đại hội Tân Trào cử làm Uỷ viên Thường trực Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam.
Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được cử làm Bộ trưởng Bộ Tài chính trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, được Quốc hội khoá I bầu làm Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội.
Trước ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông được cử làm Đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ trực tiếp chỉ đạo kháng chiến ở Nam Trung Bộ, được bổ sung làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trong những ngày công tác tại đây, Phạm Văn Đồng đã có những cống hiến to lớn và sáng tạo trong việc xây dựng vùng tự do Nam - Ngãi - Bình - Phú; chỉ đạo cuộc kháng chiến các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, phát triển mối quan hệ hợp tác, đoàn kết chiến đấu với lực lượng cách mạng các nước bạn Lào và Campuchia, xây dựng và củng cố căn cứ địa kháng chiến với khẩu hiệu Tự lực cánh sinh, chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc trường kỳ kháng chiến.
Năm 1954, ông được giao nhiệm vụ Trưởng phái đoàn Chính phủ dự Hội nghị Giơneve về Đông Dương. Những đóng góp của đoàn Việt Nam do ông đứng đầu là vô cùng quan trọng, tạo ra những đột phá đưa Hội nghị tới thành công. Trải qua 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp rất căng thẳng và phức tạp, với tinh thần chủ động và cố gắng của phái đoàn Việt Nam, ngày 21/7/1954, bản Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Campuchia và Lào đã được ký kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, của nước Việt Nam, Lào và Campuchia.
Trong thời kì kháng chiến chống Mỹ (1954- 1975): Trong  thời kì này ông đã có rất nhiều đóng góp to lớn cho đất nước.
Tháng 9 năm 1954, ông kiêm chức Bộ trưởng Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trưởng ban Đối ngoại TW Đảng. Từ tháng 9 năm 1955, ông là Thủ tướng Chính phủ của Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa.
     

Đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Ông đã nhiều lần là trưởng đoàn đi thăm chính thức các nước xã hội chủ nghĩa anh em và bè bạn, tham dự nhiều Hội nghị quốc tế quan trọng như Hội nghị Băng Đung (1955), Hội nghị cấp cao nhân dân các nước Đông Dương, nhiều hội nghị cấp cao các nước Phong trào không liên kết, Hội đồng tương trợ kinh tế và nhiều hội nghị quốc tế quan trọng khác,đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, lập trường và quan điểm của ông luôn nhằm mục tiêu vì độc lập, chủ quyền, thống nhất Tổ quốc; vì hoà bình, hữu nghị và tiến bộ giữa các dân tộc theo tinh thần Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên cơ sở hợp tác, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi. Với những quan điểm có tính nguyên tắc, tài thuyết phục và tình cảm chân thành, trong các hoạt động ngoại giao, Ông đã nhận được những tình cảm thân thiết, sự kính trọng và cảm phục. Nhiều chính khách, bạn bè quốc tế nhận xét:  Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng "là một trong những nhân vật xuất sắc và có ảnh hưởng lớn nhất ở Việt Nam trong thế kỷ XX, nhờ những khả năng siêu phàm về ngoại giao cũng như uy tín, ảnh hưởng to lớn ở trong nước".
Với sự chỉ đạo của ông, chúng ta đã thành công trong việc đàm phán với Mĩ tại hiệp đinh Pari tại Pháp ( 1973). Giúp chúng ta ngày tiến gần hơn với thống nhất một nhà, Bắc Nam sum họp thành một nhà.
 Ông luôn có những chủ trương đúng đắn, đường lối sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ. Bảo vệ đất nước trước sự xâm lược của đế quốc Mĩ, toàn lực chi viện cho miền Nam: thuốc men, lương thực, thực phẩm, khí giới, nhân lực,...Đồng thời, đấu tranh bảo vệ miền Bắc trước sự tấn công, phá hoại của đế quốc Mĩ. Bên cạnh đó, ông còn đưa học sinh, sinh viên miền Nam vào miền Bắc để học tập trong điều kiện hết sức khó khăn. Ông luôn bình tĩnh, đưa ra những  chính sách đúng đắn, phù hợp, trước những khó khăn, tình huống bất ngờ, nước sôi lửa bỏng, muôn trùng khó khăn của đất nước.
            Đất nước thống nhất: Sau khi đất nước thống nhất, chúng ta hoàn thành công cuộc kháng chiến chống Mĩ trường kì (1954-1975), đất nước thu về một mối, ông đã có những chính sách phù hợp, khôi phục lại đất nước sau chiến tranh.

Tinh thần trách nhiệm cao trước những khó khăn, yếu kém trong công tác quản lý, điều hành các lĩnh vực kinh tế - xã hội, ông nói: “Cần nói ngay về tính hiệu quả của Hội đồng Bộ trưởng, mà chủ yếu là hiệu quả công tác của đồng chí Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ai ai cũng thấy trong nhiều năm, nhất là trong 10, 12 năm trở lại đây, chúng ta phải nhận với nhau là hiệu quả không tốt, hiệu quả thấp. Đó là điều cực kỳ đáng lo ngại bởi vì hiệu quả không tốt, hiệu quả thấp làm cho tình hình kinh tế - xã hội diễn biến như thế nào, đời sống của quần chúng nhân dân ra sao, chúng ta đều đã biết; các hiện tượng tiêu cực trong xã hội - xấu đến mức nào chúng ta cũng đều biết. Đây là điều làm tôi rất khổ tâm". Ông cho rằng: "Chúng ta đang đứng trước những thách thức. Tình hình kinh tế - xã hội như thế này là một thách thức. Tình hình quốc phòng, an ninh có phải là thách thức không? nếu nói “thách thức” thì cũng có thách thức. Còn tình hình đối ngoại có cái gì là thách thức không? Cũng có... Nếu chúng ta không suy nghĩ ngày đêm để phấn đấu cho nền kinh tế - xã hội có chuyển biến, có những bước phát triển để đời sống của nhân dân tốt hơn, đỡ khổ hơn, nếu chúng ta không làm như vậy, tôi nghĩ là chúng ta không xứng đáng”
Từ đó đã cho chúng ta thấy được nhiệt huyết, tấm lòng của ông trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ đất nước.Với những công lao to lớn với dân tộc, ông thể đòi hỏi những chế độ cao cấp, những nhu cầu riêng cho bản thân. Nhưng không, ông vẫn sống lối giản dị, ông cũng luôn sống như Bác Hồ kính yêu của chúng ta, bữa cơm đạm bạc, những bộ quần áo cũ, mọi thứ không cần sang trọng cầu kì... không dành quyền lợi riêng cho mình. Luôn hỏi thăm mọi người xunh quanh, hết lòng với sự nghiệp xây dựng đất nước. Dù khi tuổi già, khi ốm đau bệnh tật, đôi mắt của ông, với cương vị của ông có thể ra nước ngoài chữa trị, nhưng ông  không đi, ông chỉ uống thuốc và duy trì.
Ông cũng rất coi trọng trồng người, đào tạo nhân tài của đất nước ta, ông đã có một câu nói luôn đi sâu mỗi người giáo viên và sinh viên sư phạm: “Nghề dạy học là nghề cao quý bậc nhất trong những nghề cao quý”.

Các chiến sĩ bộ đội ngày nay cần phải học tập những đức tính giản dị, kiên trì, không tự phụ, kiêu ngạo, luôn không ngừng học tập, dùng sức trẻ. Trí tuệ của mình để giúp ít cho đất nước, nhân dân, không ngại khó khăn, gian khổ,luôn học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại của chúng ta.
                                                                        VÕ PHAN NHƯ QUỲNH
Sinh viên lớp sử 1A – Khoa Lịch Sử - ĐHSP Huế

TÍNH NHÂN NGHĨA CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM- KẾT TINH TÍNH NHÂN NGHĨA CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI

Một trong những nội dung cơ bản của học thuyết nhân nghĩa của Khổng Tử xuất phát từ quan điểm: Nhân là yêu người. Nhưng để yêu người thực sự bằng lòng "Nhân" thì phải"hiểu người" .  Do đó, "Nhân" và "Nghĩa" lại có nội dung gần nhau. Vì nghĩa được nhấn mạnh là sự "cư xử cho thích hợp" – dựa trên việc "hiểu người”. .
Tư tưởng của Mạnh Tử về nhân nghĩa: Kế tục những tư tưởng của Khổng Tử về nhân, nghĩa với tư cách là thực hiện lẽ công bằng thể hiện ở mối quan hệ của lòng nhân bên trong hướng ra thực hiện việc nghĩa nơi ngoài. Theo Mạnh Tử “nhân nghĩa là phẩm chất cần thiết cho tất cả mọi người và khi nó đã được ứng dụng vào việc trị nước sẽ trở thành nhân nghĩa”.

Nhân nghĩa theo quan niệm của Nguyễn Trãi chính là yên dân: Nhân nghĩa chi cử vụ tại an dân (Làm việc nhân nghĩa cốt để yên dân). Nhân nghĩa duy trì quốc thể an (Nhân nghĩa duy trì thế nước yên). Dân yên là dân yên ổn làm ăn, no ấm, không lầm than khổ cực. Thế nước yên là thế nước “yên vững” ( diện an), “ bốn biển từ nay yên tĩnh” “quốc gia trường cửu”, “non sông đẹp tươi”, “ thái bình muôn thưở”.
                   

    Trong cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý sau những lần phản công của quân ta, quân địch thực sự bị dồn vào cảnh thế cùng lực kiệt, đến nỗi “các tướng tá phải than thở với nhau: “số quân đem đi 10 vạn, phu 20 vạn, nay đã chết mất quá nữa, số còn lại thì ốm đau, lương ăn đã cạn” [1, tr 67].
Nắm bắt được tình thế của giặc, Lý Thường Kiệt chủ động cho sứ “đi hòa”, nhằm mục đích mở cho địch một lối thoát trong danh dự và kết thúc chiến tranh trong điều kiện có lợi cho ta. Như lời Lý Thường Kiệt: “dùng biện sĩ bàn hòa, không nhọc tướng tá, khỏi tốn xương máu mà bảo toàn được tôn miếu” [1, tr. 162]. Thế giặc lúc này như đói mà được cho ăn, khát mà có được nước uống, như giữa lúc chết đuối mà vớ được sào, như lời bình của các học giả nhà Tống: “May được lời giặc nói nhũn, liền nhân đó giảng hòa. Nếu không có lời quy thuận của giặc thì làm thế nào” [1, tr. 68]. Tuy vậy, để vớt vát phần nào thể diện nên Quách Quỳ nói rằng: “Ta không thể đạp đổ được sào huyệt của giặc (quân ta), bắt được Càn Đức (vua Lý Nhân Tông) để báo mệnh triều đình. Tại trời vậy! Thôi đành liều một thân ta để cứu hơn 10 vạn nhân mạng” [1, tr. 68]. Vậy nên, chúng vội vàng chấp nhận giảng hòa, mong bảo toàn tính mạng.
                      

    Khi quân Mông – Nguyên tràn vào nước ta, chúng hăng say cướp phá nước ta, cho đào Chiêu Lăng, đốt cung điện. Vua tôi nhà Trần sống ngày lam lũ, cực khổ, bần cùng, dân đói rét, ly tán, nạn diệt vong đe doạ mà ngày đêm chẳng thể yên ổn được, vậy nên còn nỗi đau nào bằng. Thế nhưng, sau khi giành thắng lợi, không vì đánh được giặc mà nghĩ việc lớn đã hoàn thành, phải dụng tâm mà lo cho nghiệp lớn hơn, như lời vua Nhân Tông: “các ngươi quả biết rõ là giặc Hồ nhất định không dám lại xâm lấn nữa thì nói rõ cho trẫm biết” [2, tr. 317].
Vậy nên, nước ta lúc này bên trong thì sử dụng chính sách tù binh rất nhân đạo (chỉ trừng trị những tên tướng giặc tàn ác, có nhiều nợ máu với dân tộc), bên ngoài thì vua sai người đi sứ cầu hòa, xin theo lệ cống hiến như xưa và trả bớt tù binh về nước.
Đặc biệt, trong khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi đã tiến hành rất kiên nhẫn và có hệ thống chiến lược : “đánh vào lòng người” như đã nêu trong “Bình Ngô Sách”. Ông đã nhiều lần thay mặt cho Lê Lợi viết thư cho tướng Minh, nêu rõ sức mạnh đoàn kết của quân và dân ta và mâu thuẫn xâu xé nội bộ địch…vừa nêu rõ sự khó khăn tuyệt vọng, thất bại của địch, vừa chỉ ra lối thoát cho chúng và khẳng định ý chí kiên quyết tiêu diệt địch của quân và dân ta, lại vừa nêu rõ chính sách khoan hồng của dân tộc ta đối với hàng binh, tù binh…Kết quả là “thành giặc các nơi, mũi nhọn không dính máu mà tự mở”, hành vạn quân địch ra hàng. Khi ta hoàn toàn giải phóng đất nước, bao vây thành Đông Quan, Nguyễn Trãi thay mặt cho Lê Lợi gửi thư cho Vương Thông đề nghị giảng hòa, Vương Thông chấp nhận, buộc 10 vạn quân địch còn lại phải đầu hàng và được rút quân về nước…
Bài học đó được Đảng ta, Quân đội ta và nhân ta vận dụng và phát huy tính nhân nghĩa của cha ông ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Trong tư tưởng nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh, đối với địch, dù họ là kẻ đi xâm lược, không phân biệt màu da hay quốc tịch, Hồ Chí Minh đều coi họ là con người. Theo Hồ Chí Minh, họ cũng có Tổ quốc, có cha, mẹ, có anh em và bạn bè, họ cũng muốn sống và phải được sống. Vì thế, đừng để họ phải chết uổng công, vô ích. Trong thư trả lời Tổng thống Mỹ Ri-sớt Ních-xơn, Hồ Chí Minh chỉ ra: “Chiến tranh kéo dài làm cho nước Mỹ càng hao người tốn của. Tôi vô cùng công phẫn trước những tổn thất và tàn phá do quân Mỹ gây ra cho nhân dân và đất nước chúng tôi; tôi cũng rất xúc động thấy ngày càng có nhiều thanh niên Mỹ chết vô ích ở Việt Nam vì chính sách của nhà cầm quyền Mỹ. Trong số 25.000 binh sĩ Mỹ bị Chính phủ Mỹ đưa sang tham chiến ở miền Nam, đã có hàng trăm người chết, hàng nghìn người bị thương. Tức là hàng trăm nghìn chị em phụ nữ Mỹ đã bị mất chồng, mất cha, mất con, hoặc mất người yêu!”[3;488].
Trong chiến tranh, phía ta và bên địch đều phải đổ máu, hy sinh. Ai chết cũng vậy, Người đều đau thương, xem đó là kết quả từ tội ác của những người chủ mưu gây ra cuộc chiến tranh phi nghĩa. Người cho rằng “máu nào cũng là máu, người nào cũng là người”, “những dòng máu đó đều quý như nhau”, nên đã là con người thì phải được bảo vệ. Bởi vậy, ngay trong tư tưởng và hành động, không ở đâu, chưa khi nào Người chủ trương “giết sạch, đốt sạch” để trả thù bọn thực dân, đế quốc, mà chỉ tỏ rõ quyết tâm: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.
Đối với tù binh, hàng binh và những đối tượng có quan điểm và lợi ích đối lập với ta, Người luôn trân trọng phần thiện ở họ. Bằng nhiều cách, Người đã khai thác và tìm cách nhân lên tình người còn tiềm ẩn trong họ, giúp họ nhận ra lẽ phải để cải tà, quy chính. Nhờ độ lượng, vị tha, bằng những chủ trương, chính sách và cách xử lý “thấu lý, đạt tình”, Hồ Chí Minh đã tạo sức thuyết phục, cảm hóa đối với kẻ thù, đã thức tỉnh lương tri, quy tụ nhiều người lầm lỗi trở về với cách mạng, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Với lòng nhân ái, vị tha, Hồ Chí Minh luôn đề cao chính sách đối xử nhân đạo với tù, hàng binh và những người lầm lỗi đã có “thiện tâm”, “phục đức”. Người nhắc nhở quân và dân ta cần đối xử khoan hồng với tù, hàng binh. Người chỉ thị: “Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng. Phải làm cho thế giới, trước hết là làm cho dân Pháp biết rằng: Chúng ta là quang minh chính đại. Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước”[3;29-30].Bản thân Người đã nhiều lần gặp gỡ tù binh, hàng binh, thăm hỏi gia đình, sức khỏe, sự đối đãi của phía ta đối với họ. Trong một bức thư gửi tới Người, 135 tù binh đã tỏ lòng “cảm kích sâu sắc trước tấm lòng độ lượng của Ngài đối với chúng tôi”.
              

Tư tưởng nhân văn, nhân đạo, khoan dung của Hồ Chí Minh với tù, hàng binh đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vận dụng xuyên suốt trong các cuộc kháng chiến. Ngay sau Chiến dịch Biên giới (1950), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký quyết định ân xá, thả cả hai sĩ quan chỉ huy binh đoàn Lơ-pa-giơ và Sác-tông, cùng hàng trăm tù binh của Pháp. Ngay trước Chiến dịch Điện Biên Phủ, ngày 30-3-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thả 200 tù binh người Bắc Phi. Trong thư gửi cho những tù binh này, Người viết: "Tôi biết rằng, đó không phải lỗi của các bạn, các bạn đều là nạn nhân buộc phải cầm súng chiến đấu cho thực dân Pháp". Người còn viết: “Tôi nghĩ rằng, đến một ngày gần đây hai dân tộc Pháp-Việt có thể cùng cộng tác trong hòa bình và thân ái, để mưu cầu hạnh phúc cho hai dân tộc”. Hồ Chí Minh giải thích với tù binh: "Các ông biết chiến tranh là chiến tranh. Quân đội Việt Nam chỉ làm chiến tranh trong các trận đánh, sau trận đánh đối với quân đội bại trận, Quân đội Việt Nam coi các binh sĩ như người dân Pháp". Trong một lần đến thăm tù binh, Bác còn cởi cả áo khoác của mình cho một sĩ quan Pháp đang bị sốt rét...
Chính lòng nhân đạo, khoan dung của Hồ Chí Minh trong việc xác định đúng kẻ thù và đối đãi với tù binh, hàng binh và người lầm lỡ quay trở lại với nhân dân, với cách mạng, đã làm giảm đi nhiều tổn thất trong các cuộc chiến tranh, nhất là làm dịu mối hận thù giữa hai dân tộc, hai quốc gia đối địch trong chiến tranh. Cố Thủ tướng Ấn Độ P.J.Nê-ru từng viết: “Người (Hồ Chí Minh) là một con người của quần chúng, một lãnh tụ có sự kết hợp hiếm có giữa lòng khoan dung tột độ và ý chí nhất; xét theo bất cứ tiêu chuẩn nào Người cũng là một nhân vật nổi bật nhất trong thời đại chúng ta”.
Thực hiện tư tưởng của Người, lòng nhân đạo đối với tù binh, hàng binh địch được nhân dân ta vận dụng rất thành công trong chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược. Tù binh và hàng binh Mỹ đều được đối xử rất nhân đạo, được giáo dục và trả về đoàn tụ cùng gia đình, có người sau này trở thành thượng nghị sĩ và Đại sứ Mỹ ở Việt Nam. Nhiều tù binh có tình cảm tốt với nhân dân ta và chính họ đã bắc nhịp cầu nối lại tình đoàn kết giữa hai dân tộc, mở ra phương hướng hợp tác mới giữa hai quốc gia. Truyền thống đại nghĩa và nhân văn gắn liền với quyết tâm bảo vệ Tổ quốc thể hiện qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm là thông điệp mà nhân dân ta muốn gửi tới các tổ chức và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới; đồng thời cũng là lời cảnh báo nghiêm khắc đối với các thế lực thù địch có âm mưu chống phá công cuộc đổi mới trên đất nước ta, hoặc xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.
            Tính nhân nghĩa từ lâu đã trở thành một đặc tính của dân tộc ta. Nó hình thành và phát triển cùng với quá trình tồn tại và phát triển của truyền thống đất nước. Trải qua nhiều thế hệ, nhiều biến cố, nhiều giai đoạn lịch sử, tính nhân nghĩa ấy ngày càng được sàng lọc, bồi đắp thêm. Ngày nay, việc nghiên cứu lối ứng xử của cha ông ta để đúc kết thành bài học là điều hết sức cần thiết. Đó là bài học về đức tính quý báu của dân tộc - bài học về tính nhân nghĩa.
                                                           LÊ VĂN VIỆN
          Sinh viên lớp sử 3C – Khoa Lịch Sử - ĐHSP huế

Chú thích:
(1)   Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí (2004), Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.
(2)   Ngô Sĩ Liên (2013), Đại Việt sử ký toàn thư(Bản dịch), NXB Thời đại, Hà Nội.
(3)    Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd.
(4)   Bài viết thầy Thái Quang Trung, Chiến thắng Điện Biên Phủ - Sự kết tinh nghệ thuật quân sự Việt Nam thời trung đại trang 122 trong Kỷ yếu hội thảo khoa học 60 năm chiến thắng Điện biên Phủ (07/5/1954-07/5/2014)
(5)   Địa chỉ các trang web:


QUÁ TRÌNH RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

  
Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng quân sự chính quy của chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”. Ngày truyền thống là ngày 22 tháng 12 hằng năm. Quân kỳ của quân đội nhân dân Việt Nam là lá quốc kỳ của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thêm dòng chữ “ Quyết thắng” màu vàng ở phía trên bên trái.
      Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944 theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, tại khu rừng Trần Hưng Đạo thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
Khi mới thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chỉ có 34 cán bộ, chiến sĩ (trong đó có 3 nữ) do Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung nhưng đã sớm phát huy được truyền thống chống ngoại xâm và nghệ thuật quân sự lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn của dân tộc. Ngay từ lần đầu ra quân, đội quân chính quy đầu tiên của Việt Nam đã lập nên những chiến công vang dội, giải phóng những khu vực rộng lớn làm căn cứ cho các hoạt động đấu tranh giành độc lập, mở đầu truyền thống quyết chiến quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này.

Ngày 15/4/1945 Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp tại Hiệp Hòa, Bắc Giang quyết định sát nhập  Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân với lực lượng Cứu quốc quân do Chu Văn Tấn chỉ huy, đổi tên thành Giải phóng quân, lực lượng quân sự chính của Việt Minh để giành chính quyền Cách mạng tháng Tám năm 1945. Lễ hợp nhất được tổ chức ngày 15/5/1945, tại rừng Thàn Mát, xã Định Biên, huyện Định Hóa, Thái Nguyên.
         Thời gian từ năm 1945 đến năm 1954 là thời kỳ phát triển vượt bậc cả về số lượng và khả năng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chỉ một thời gian ngắn, từ khi đất nước giành được độc lập đến tháng 11 năm 1945, Giải phóng quân đã phát triển từ một đội quân nhỏ trở thành Quân đội Quốc gia Việt Nam với quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành 40 chi đội. Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam. Cũng thời gian này, các đại đoàn (đơn vị tương đương sư đoàn) chủ lực quan trọng như các đại đoàn 308, 304, 312, 320, 316, 325, 351 lần lượt được thành lập, đến nay vẫn là những đơn vị chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ một đội quân chỉ vài trăm người khi tham gia Tổng khởi nghĩa, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát triển thành quân đội với các sư đoàn chủ lực mạnh, lập nên những chiến công lẫy lừng mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử ngày 07 tháng 05 năm 1954, đập tan mưu toan thiết lập lại chế độ thuộc địa của thực dân Pháp.

          Sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Nhân dân Việt Nam đứng trước hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Nhiệm vụ của quân đội thời kỳ này là vừa xây dựng chính quy, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa vừa tham gia đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 15 tháng 02 năm 1961, Quân Giải phóng miền Nam, lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất lực lượng vũ trang tại chỗ và lực lượng tăng viện từ miền Bắc. Trước sự can thiệp trực tiếp của quân đội Mỹ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã sát cánh cùng với nhân dân và các lực lượng vũ trang khác, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài và gian khổ, lập nên những kỳ tích mà tiêu biểu là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ ở miền Bắc mà đỉnh cao là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12 năm 1972; kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, thống nhất đất nước, mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước.
Sau chiến thắng lịch sử năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam lại cùng với nhân dân cả nước tiến hành thắng lợi các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
          Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam vừa mới kết thúc thì chế độ diệt chủng do Pônpốt cầm đầu ở Campuchia đã kích động hận thù dân tộc, tiến hành chiến tranh xâm lấn ở biên giới Tây Nam của Tổ quốc. Chúng gây ra nhiều cuộc thảm sát man rợ với nhân dân Việt Nam sống dọc biên giới, đồng thời thực hiện chính sách diệt chủng đối với nhân dân Campuchia. Đứng trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, ngày 23 tháng 12 năm 1978 Quân đội nhân dân Việt Nam đã mở cuộc phản công chiến lược, đập tan cuộc tiến công của quân đội Pônpốt. Sau đó, đáp ứng lời kêu gọi khẩn thiết của nhân dân và Mặt trận dân tộc cứu nước Campuchia, Quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp với các lực lượng vũ trang Campuchia, đánh tan 21 sư đoàn quân Pônpốt, xoá bỏ chế độ diệt chủng tàn bạo.

            Bước vào thời kỳ hoà bình xây dựng đất nước, các thế hệ sĩ quan, chiến sĩ quân đội vẫn kế tiếp nhau phát huy truyền thống và bản chất tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ”, luôn làm đúng chức năng của một đội quân chiến đấu, một đội quân công tác, một đội quân sản xuất, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Thực hiện chức năng là một đội quân công tác, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Là một trong các lực lượng nòng cốt tham gia công tác vận động quần chúng, các đơn vị quân đội đã tích cực thực hiện công tác dân vận. Nhiều đơn vị quân đội đã đi đầu trong phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng sâu, vùng xa; tham gia công tác cứu hộ và giảm nhẹ thiên tai, phòng chống lụt, bão. Quân đội cũng tích cực tham gia xoá đói, giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tình thần cho các tầng lớp nhân dân, phấn đấu đến năm 2010 hoàn thành chỉ tiêu xóa đói giảm nghèo cho 100.000 hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
Là một đội quân sản xuất, các đơn vị trong toàn quân đã tận dụng mọi tiềm năng lao động, đất đai, kỹ thuật... để đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tạo nguồn sản phẩm bổ sung tại chỗ, góp phần giữ ổn định và cải thiện đáng kể đời sống bộ đội. Các nhà máy, xí nghiệp của quân đội đã sản xuất được các loại vũ khí, khí tài phù hợp với yêu cầu tác chiến hiện đại, đáp ứng các yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội. Nhiều đơn vị làm kinh tế của quân đội đã sản xuất và kinh doanh có hiệu quả, trở thành các tổ chức kinh tế lớn của đất nước, đi đầu trong kết hợp kinh tế với quốc phòng, góp phần xứng đáng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng - an ninh của đất nước. Các doanh nghiệp quân đội đã tham gia nhiều dự án công trình trọng điểm của quốc gia như đường Hồ Chí Minh, đường dây 500 KV Bắc - Nam, dịch vụ dầu khí và nhiều công trình thuỷ điện lớn như sông Đà, Drây H’ling. Hiện có 98 doanh nghiệp quân đội đang tham gia hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh tế như dịch vụ bay, dịch vụ cảng biển, viễn thông, công nghiệp đóng tàu... Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp này ngày một tăng.
Thực hiện chức năng cơ bản là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và các quyền lợi quốc gia của đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam được tổ chức theo hướng tinh gọn, được trang bị các loại vũ khí, khí tài hiện đại cần thiết, thực hiện huấn luyện thường xuyên, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Với sự phát triển kinh tế trong thập niên đầu của thế kỷ 21, Việt Nam đang dần đầu tư mạnh và hiện đại hóa quân đội. Hiện đại hóa quân đội là tư tưởng chỉ đạo qua hai khóa Đại hội Đảng năm 2001-2006, 2006-2011. Từ năm 2012 đến năm 2015, Việt Nam sẽ trở thành một trong 3 nước nhập khẩu vũ khí của Nga nhiều nhất. Là một thành viên của ASEAN, thực lực quân sự của Việt Nam được các nước trong ASEAN rất coi trọng. Hiện nay, trình độ trang bị công nghệ cao của Quân đội Việt Nam chưa được hoàn thiện, nhưng phân tích kỹ thì trong Hải, Lục, Không quân Việt Nam vẫn có một số vũ khí "vượt trội".

Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam có lực lượng thường trực gồm bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương với tổng quân số khoảng 450.000 người và lực lượng quân dự bị khoảng 5 triệu người. Bộ đội chủ lực là thành phần nòng cốt của Quân đội nhân dân Việt Nam gồm lực lượng cơ động của các quân đoàn, quân chủng, binh chủng, bộ đội chủ lực của quân khu và bộ đội chuyên môn kỹ thuật. Bên cạnh các đơn vị huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu còn có hệ thống hoàn chỉnh các đơn vị bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; các học viện, viện nghiên cứu, các trường đào tạo sĩ quan và trường nghiệp vụ các cấp.
                                                                              BÙI THỊ DIỆU HIỀN
Sinh viên lớp sử 1A - Khoa Lịch sử - ĐHSP Huế

Thursday, December 10, 2015

Ý nghia Logo CLB sử học

Hình tượng chim Lạc cách điệu: Biểu tượng cho truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt Nam. Việc sử dụng hình tượng này thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc, sự cao quý và thiêng liêng. 
Chim Lạc với dáng thanh mảnh, hướng bay vút lên cao mang tinh thần vươn xa, cầu tiến.
Trong phong thủy, chim Lạc cũng được sử dụng như là biểu tượng để đem lại nguồn năng lượng sống dồi dào và ý chí mạnh mẽ.

Hình tròn: Hình tròn tượng trưng cho hình ảnh trống đồng, cùng với chim Lạc là những biểu tượng tiêu biểu nhất của dân tộc Việt Nam. Hình tròn còn tượng trưng cho sự viên mãn, cân bằng và đoàn kết.. Ngoài ra, nó còn gợi nhiều hình ảnh thú vị: mặt trời gần gũi, thân quen với con người mang lại cảm giác ấm áp, thành công và chiến thắng, trái đất thể hiện tính toàn cầu, hoạt động quốc tế.

Kết hợp với hình ảnh chim Lạc làm trung tâm, xuyên suốt vươn ra ngoài bố cục tròn càng nhấn mạnh tiêu chí vươn cao và sáng tạo, không bó buộc trong bất kỳ khuôn khổ nào.
Với phiên bản chim Lạc chia đôi hình tròn tượng trưng cho 2 phần: phía trên là bầu trời, phía dưới là mặt đất. Đồng thời cũng tạo hình xoáy tròn âm dương – sự vận động liên tiếp, không ngừng mà CLB hướng đến.
Phía trên là chữ Liên chi hội Khoa lịch sử tượng trưng cho đơn vị mà CLb trực thuộc.
Phía dưới là tên CLB với dòng chữ màu đỏ, là dòng huyết mạch chảy từ đời này sang đời khác, nó như 1 chiếc cầu bắc ngang kết nối bao thế hệ
Màu sắc của logo
- Màu của logo:
Màu xanh dương đậm: Màu xanh dương thể hiện sự chuyên nghiệp, tin tưởng, uy tín, sự phát triển mở rộng không ngừng. Bên cạnh đó, màu sắc này cũng được biết đến như là màu của bền vững và thống nhất
---->CLB phát động chương trình Chúng ta hãy cùng phủ xanh fb bằng logo CLB nào??? Chúng ta hãy hưởng ứng 1 tuần lễ đến thứ 6 tuần sau, để chuẩn bị ra mắt CLB??? Cùng phủ xanh thôi, chương trình bắt đầu

Bài thu hoạch thực tế lịch sử các tỉnh phía Bắc

Bác Hồ ta đã có câu “Học đi đôi với hành”. “Học” là tiếp thu kiến thức đã được tích lũy trong sách vở, là nắm vững lý luận. Còn “hành” là làm, là thực hành, là ứng dụng kiến thức đã tiếp thu vào đời sống thực tế. Cho nên học và hành có quan hệ chặt chẽ với nhau, là hai mặt của một quá trình thống nhất, không thể tách rời.

Và trong học tập thì việc vận dụng giữa những kiến thức đã học vào thực tế lại càng quan trọng hơn, đặc biệt là trong học tập và giảng dạy môn Lịch sử. Với đặc thù bộ môn của chúng ta là học những sự kiện, hiện tượng, nhân vật đã xảy ra trong quá khứ nên việc tiếp thu kiến thức trong sách vở và sau đó được đi thực tế, thăm các di tích lịch sử, các hiện vật thì sẽ giúp cho việc học tập có hiệu quả hơn, và việc tiếp thu kiến thức nhanh hơn, hiểu sâu hơn, nhớ lâu hơn.
Học kỳ II năm 3, chúng tôi có học phần thực tế lịch sử Việt Nam. Khoa đã tổ chức cho chúng tôi đi thực tế lịch sử Việt Nam ở các tỉnh phía Bắc. Chuyến đi thực tế rất bổ ích đối với chúng tôi, qua chuyến đi tôi đã thu được nhiều kiến thức, chụp được nhiều hình ảnh tư liệu và đặc biệt tôi được tận mắt nhìn thấy những di tích lịch sử như nhà sàn của Bác, lán Nà Nưa, cây đa Tân Trào… hay những hiện vật mà bình thường tôi chỉ được nhìn thấy trong sách vở. Sau chuyến đi này, tôi đã học hỏi được nhiều điều bổ ích, làm phong phú thêm vốn kiến thức của mình. Và hơn hết đó là những kiến thức tôi được học trên sách vở bây giờ tôi đã trực tiếp nhìn thấy, sờ thấy.
Đối với việc học tập lịch sử thì đi thực tế có vai trò rất quan trọng, vừa cũng cố kiến thức đã học, cung cấp thêm kiến thức mới, giáo dục tình yêu quê hương, đất nước và qua đó cũng rèn luyện cho thêm nhiều kỹ năng. Với tầm quan trọng của việc đi thực tế lịch sử như vậy nên tôi hi vọng nhà trường và ban lãnh đạo khoa sẽ tổ chức nhiều dịp đi thực tế hơn nữa để cho việc học của sinh viên đạt hiệu quả cao 
NỘI DUNG
1.    Kế hoạch
Kế hoạch đi thực tế lịch sử Việt Nam tại các tỉnh phía Bắc đã được các các thầy trong khoa phổ biến cho tôi trước đó hơn một tháng. Ngày 30 – 3 – 2014, các thầy dẫn đoàn đã có buổi gặp với 3 lớp năm 3 để phổ biến lịch trình, kế hoạch cụ thể của chuyến đi.
Các thầy cũng đã nhắc nhở chúng tôi cầm theo thẻ sinh viên, CMND, các vật dụng cần thiết... và nhắc chúng tôi sáng ngày 1 – 4 – 2014 có mặt lúc 6h00’ tại cổng 36.
Chuyến thực tế lần này của chúng tôi đi tới các địa điểm thuộc các tỉnh Huế à Nghệ An à Hà Nộià Phú Thọ à Tuyên Quang à Hà Tĩnh à Quảng Bình à Huế
Thời gian: 9 ngày 8 đêm (1 – 4 à 9 – 4 – 2014)
Thành phần: 3 thầy dẫn đoàn PGS.TS Đặng Văn Hồ, TS. Nguyễn Văn Hoa, TS. Nguyễn Tất Thắng và 149 sinh viên. Bên cạnh đó, còn có thầy Ths. Đỗ Mạnh Hùng và cô Ths. Lê Thị Quí Đức cùng tham gia chuyến đi với chúng tôi.
Sáng ngày 1 – 4 – 2014, đúng 6h00 chúng tôi có mặt tại cổng 36. Đúng 6h30’ đoàn chúng tôi xuất phát.Chuyến đi thực tế lịch sử Việt Nam tại các tỉnh phía bắc đã được chúng tôi chuẩn bị từ trước đó hơn một tháng. Và thời gian chúng tôi đi là từ ngày 1/4 đến 9/4/2014. Đúng 6h00’, chúng tôi có mặt tại cổng 36 của trường ĐHSP Huế, 6h30’ xe chúng tôi xuất phát, xe của tôi là xe số 2, gồm có 43 sinh viên của lớp Sử 3B và thầy giáo Th.s Đỗ Mạnh Hùng. Ngày đầu tiên chúng tôi sẽ đi từ Huế ra Vinh
Khoảng hơn 16h thì xe chúng tôi đến khách sạn Công đoàn Nghệ An – nơi chúng tôi sẽ chúng tôi sẽ nghĩ buổi tối.
Sau buổi tối nghĩ lại Vinh, sáng hôm sau đúng 7h00’ chúng tôi có mặt ở xe để đến thăm địa điểm đầu tiên trong chuyền hành trình thực tế, đó là quê ngoại và quê nội của Bác Hồ. Quê ngoại của Bác Hồ thuộc làng Hoàng Trù – xã Chung Cự (ngày nay là xã Kim Liên) – huyện Nam Đàn – tỉnh Nghệ An, đây là nơi mà Bác đã cất tiếng khóc chào đời và gắn bó 5 năm tuổi thơ. Di tích Hoàng Trù nằm trong mãnh vườn khá rộng, khoảng 3500m, có 3 ngôi nhà: Ngôi nhà thờ chi nhánh họ Hoàng Xuân, ngôi nhà cụ Hoàng Đường (ông ngoại Bác), ngôi nhà của cụ Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan.

Ngôi nhà tranh lớn 5 gian là tổ ấm của ông bà ngoại – cụ Hoàng Đường. Ông ngoại của Bác là cụ giáo Hoàng Phân Đường, làm nghề dạy học, là một thầy giáo giàu lòng thương người. Còn bà ngoại Bác là cụ Nguyễn Thị Kép, bà làm ruộng và dệt vải.
Ngôi nhà của cụ Hoàng Đương gồm có 5 gian và hai chái, trong đó ba gian ngoài thông với nhà thờ rất thoáng mát. Bộ phản kê ở gian thứ nhất là nơi cụ Đường dạy học. Gian thứ hai có bộ tràng kỷ bằng tre, chiếc án thư với những dụng cụ dạy học như bút lông, nghiên mực... Gian thứ ba có bộ phản dùng làm nơi nghỉ ngơi của thầy và trò. Hai gian còn lại là nơi nghỉ ngơi của cụ bà và là nơi sinh hoạt của gia đình.
 Nhà ông ngoại của Bác Hồ
Nhà của cụ Hoàng Đường – ông ngoại của Bác
Cuối năm 1883, ông bà Hoàng Đường tổ chức lễ thành hôn cho hai con là Hoàng Thị Loan (thân mẫu của Hồ Chủ tịch) và Nguyễn Sinh Sắc (thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh) tại ngôi nhà gỗ 5 gian này. Ông bà đã dựng ngôi nhà tranh ba gian đầu góc vườn phía tây để cho đôi vợ chồng trẻ ở riêng.
Ngôi nhà tại làng Hoàng Trù là nơi bà Hoàng Thị Loan sinh ra và lớn lên, là lớp học đầu tiên ươm trồng tài năng của ông Nguyễn Sinh Sắc. Đây cũng là nơi ghi dấu những kỷ niệm êm đẹp trong tuổi ấu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngôi nhà ngói 3 gian phía sau là nhà thờ dòng họ Hoàng Xuân – dòng họ ngoại của ngoại của Bác, được cụ Hoàng Đường dựng lên năm 1881, thờ từ đời cố nội, sau khi ông bà ngoại cụ qua đời đây còn là nơi thờ tự ông bà ngoại Bác.
Ngôi nhà chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời
Ngôi nhà tranh 3 gian nằm ở góc vườn phía tây nhà ông bà Hoàng Đường là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh cất tiếng khóc chào đời và sống ở đây cho tới năm lên 3 tuổi. Gian ngoài cạnh cửa sổ có chiếc án thư với nghiên mực, hộp đựng bút lông, hai chiếc ghế vuông, chếch về phía trong là hai giá sách đựng sách thánh hiền. Tại gian nhà này cụ Hoàng Đường thường qua đây trao đổi với ông Sắc về văn chương, chữ nghĩa.
Gian nhà 3 gian của cụ Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan
Bố mẹ Bác Hồ đã gắn bó ở ngồi nhà nhỏ 3 gian này 12 năm đầm ấp và hạnh phúc, cố nhà thơ Tố Hữu khi về thăm nơi đây đã rất xúc động viết nên hai vần thơ:      “Ba gian nhà trống nồm đưa võng                                                                        Một chiếc giường con chiếu mỏng manh”.
Hình ảnh nhà của cụ Nguyễn Sinh Sắc
Gian giữa sát phên có chiếc giường nhỏ bằng gỗ xoan, liếp nứa, trải chiếu mộc, chiếc màn bằng vải nhuộm nâu là nơi nghỉ của ông Sắc và bà Loan. Sát bên chiếc giường là chiếc rương gỗ nhỏ dùng đựng lương thực và các vật quí của gia đình.
Chiếc khung cửi đặt ở gian thứ ba là công cụ lao động của bà Loan dùng để dệt vải, dệt lụa nuôi sống cả gia đình. Bà Hoàng Thị Loan vừa dệt vải vừa hát ru con để chồng yên tâm việc bút nghiên. Tại đây còn có chiếc võng gai đơn sơ, nơi xưa kia Bác Hồ đã từng nằm ngủ. Tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được mẹ chăm sóc, vun đắp bằng những làn điệu dân ca bay bổng chứa đựng những ước mơ cao đẹp, hy vọng sâu xa.
Chiếc võng gai nơi Bác Hồ nằm ngủ lúc nhỏ

Chiếc giường tre trong nhà cụ Nguyễn Sinh Sắc
Trên chiếc tre bé nhỏ, đơn sơ này, cụ Hoàng Thị Loan đã sinh cho dân tộc Việt Nam 3 người con yêu nước. Năm 1884, mẹ sinh người con gái đầu lòng cô Nguyễn Thị Thanh – chị của Bác, năm 1888, sinh anh trai của Bác là cậu Nguyễn Sinh Khiêm. Ngày 19 – 5 – 1890, chính trên chiếc giường đơn sơ này, Bác Hồ đã cất tiếng khóc chào đời và được ông ngoại và bố đặt tên là Nguyễn Sinh Cung.
Ngay từ bé, tại mảnh đất Hoàng Trù, Nguyễn Sinh Cung đã cảm nhận được sự dạy bảo ân cần của ông bà ngoại, tình cảm thương yêu của cha mẹ đối với mình. Làng Hoàng Trù còn được biết tới là cái nôi của văn hóa xứ Nghệ, bởi vậy mà lời ru, câu hát quê hương đã theo Nguyễn Sinh Cung từ thuở lọt lòng cho tới trước lúc đi xa:       
“À ơi, con ơi mẹ dặn câu này
Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm
Làm người đói sạch rách thơm
Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền”.
Cả một đời bôn ba lo việc nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt chân tới nhiều quốc gia, nhiều miền quê trên khắp đất nước Việt Nam này, thế nhưng Người chỉ có điều kiện trở về quê ngoại được một lần duy nhất. Đó là vào ngày 9/12/1961, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng Người về lại làng Hoàng Trù sau nhiều năm xa cách và lúc này Bác đã là một cụ già 71 tuổi Mọi kỷ vật trong ngôi nhà vẫn còn đó. Án thư nơi cụ Nguyễn Sinh Sắc thường dạy các con học, chiếc khung cửi - nơi người mẹ tảo tần cả đời vì chồng vì con Hoàng Thị Loan vẫn ngồi dệt vải, phản gỗ nơi các nhà nho yêu nước thường đến bàn chuyện thời cuộc nước nhà với cụ Nguyễn Sinh Sắc… tất cả còn nguyên vẹn với thời gian. Đặc biệt là chiếc rương gỗ vẫn ở nguyên vị trí mà trước đây cậu bé Nguyễn Sinh Cung chập chững, vịn tay vào mép rương bước ra chỗ cha đọc sách.
Khi được về thăm quê ngoại của Bác Hồ là làng Hoàng Trù, tôi thực sự rất xúc động khi được xem lại những kỷ vật gắn bó với tuổi thơ của Bác, hiểu rõ những năm tháng gia đình Bác sống ở đây như thế nào? Chính mãnh đất Hoàng Trù này đã sinh ra người anh hùng của dân tộc Việt Nam – Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Và khi trở về, tôi sẽ kể những câu chuyện, những điều tôi biết về quê ngoại của Bác cho gia đình và bạn bè tôi, để họ có thể biết được nhiều hơn về tuổi thơ của Bác tại mãnh đất Hoàng Trù này. Và sau này, ra trường đi dạy, tôi sẽ kể cho các thế hệ học trò của tôi, để các em có thể hiểu hơn về tuổi thơ của Bác, hiểu nhiều hơn về mãnh đất Hoàng Trù xứ Nghệ giàu truyền thống yêu nước này.
Quê nội Bác Hồ: Làng Sen – xã Chung Cự (nay là xã Kim Liên) – huyện Nam Đàn – tỉnh Nghệ An.
Sau khi thăm quê ngoại xong, chúng tôi lên xe đến thăm quê nội của Bác, đó là làng Sen, cách làng Hoàng Trù 2km. Cụm di tích làng Sen gồm có nhiều điểm di tích như: Giếng Cốc, cây đa, đền làng Sen, nhà thờ họ Nguyễn Sinh… và đặc biệt là ngôi nhà tranh của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc- thân phụ Bác, do dân làng góp tiền của xây dựng để mừng ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Dưới đây là một số hình ảnh ở cụm di tích làng Sen:
 Hình ảnh trên là con đường vào nhà cụ Nguyễn Sinh Sắc, đó có một cái ao lớn, là ao sen. Nhưng lúc chúng tôi đến có lẽ là do thời tiết nên chưa có cây và hoa, có lẽ nó sẽ mọc lên và đưa hương thơm ngào ngạt vào mùa hè.
Đó là một ngôi nhà gỗ 5 gian, lợp mái tranh, nhỏ bé, mộc mạc, giản dị dưới màu xanh của vườn cây và những bóng tre. Đây là nơi ở chính của cả gia đình, kế bên là nhà ngang sử dụng làm nhà bếp.Năm 1901, thân phụ Bác Hồ là Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng, là một niềm vinh dự với gia đình, họ tộc và cả làng Sen vì lần đầu tiên trong làng có một người đổ cao. Cho nên nhân dân làng Sen người góp công, người góp của đã dựng một ngôi nhà gỗ mái tranh 5 gian để đón vị Phó bảng vinh quy bái tổ. Còn ngồi nhà 3 gian là món quà của anh trai cùng cha khác mẹ Nguyên Sinh Thuyêt mừng em ngày đổ đạt. Cả gia đình đã từ làng Hoàng Trù (quê ngoại Bác Hồ) trở về sống tại Làng Sen. Ngôi nhà này đã gắn với tuổi thơ Bác Hồ từ năm 1901 đến năm 1906.
Cả hai nếp nhà đều thấp, khiêm nhường, và điển hình cho những nếp nhà ở làng quê nông thôn Việt Nam, với vì kèo gỗ, với mái hiên cùng những tấm giại- liếp; với cổng ngõ khoảng sân phía trước - gắn liền với không gian khoáng đạt của thiên nhiên.
Hai gian nhà phía ngoài là nơi đặt bàn thờ mẹ Bác và là nơi tiếp khách- đàm đạo chuyện thế sự của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Cạnh bàn thờ cụ Nguyễn Sinh Sắc đã đặt tấm biển là món quà cao quý mà vua Thành Thái ban cho ông ngày đổ Phó bảng. Trên tấm biển có ghi 4 chữ “Ân – Tứ - Ninh – Gia” tức có nghĩa “Ơn của nhà vua ban về cho giai đình tốt”, món quà cao quý vua ban ông Sắc đã dâng lên bàn thờ để tưởng nhớ người vợ hiền.
Gian thứ ba là nơi ở của bà Nguyễn Thị Thanh- chị cả của Bác Hồ. Hai gian còn lại là nơi nghỉ và sinh hoạt của cả gia đình. Ở gian thứ tư có kê bộ phản gần cửa sổ là nơi cụ Phó bảng thường nằm đọc sách. Gian thứ năm kê bộ phản là nơi nghỉ của hai anh em Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung (tức Bác Hồ).
Dù đã đỗ đạt song gia đình cụ Phó bảng vẫn sống thanh đạm. Phần lớn các đồ đạc trong nhà đều do dân làng tặng, những kỷ vật tới giờ được gìn giữ gần như nguyên vẹn. Ngôi nhà của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã gắn bó với một giai đoạn quan trọng đầy ý nghĩa thời niên thiếu của cuộc đời Bác Hồ từ năm 11- 16 tuổi. Chính mãnh đất làng Sen quê nội này là nơi đã bước đầu giáo dục lòng yêu nước thương dân và ý chí giải phóng dân tộc của Bác. Ngôi nhà là những ân tình làng xóm quê hương, là nơi chứng kiến quá trình học tập, trưởng thành; là nơi ghi dấu cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước và những nhận thức thời cuộc - bước tiền đề cho con đường cứu nước sau này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bộ ấm chén pha trà mà cụ Nguyễn Sinh Sắc dùng tiếp khách
Chum sành ở gian nhà 3 gian
Những năm tháng sống ở tại đây thì Bác thường gánh nước ở giếng Cốc đổ vào chiếc chum sành này.
Một số kỷ vật ở gian nhà 3 gian phía dưới
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình thì Bác đã trở về thăm lại quê nội 2 lần. Lần đầu tiên là năm 1957, lúc này gia đình người thân đã không còn ai nữa. Xa quê hương nhưng những kỷ niệm tuổi thơ thì vẫn không phai mờ trong trái tim của Bác. Lần thứ 2 cũng là lần cuối cùng Bác về thăm làng Sen quê nội là năm 1961.
Khoảng 10h30’ thì chúng tôi rời khỏi làng Sen quê nội của Bác Hồ, bước lên xe trở lại thành phố Vinh nhưng lòng tôi vẫn còn bồi hồi. Quê nội và quê ngoại của Bác là điểm đến đầu tiên trong chuyến hành trình thực tế, và chuyến thăm này thật sự ý nghĩa. Sau khi bước chân về tại mãnh đất Hoàng Trù và làng Sen, trực tiếp được đi trên mãnh đất giàu truyền thống yêu nước này, trực tiếp được nhìn những hiện vật và được nghe 2 cô thuyết minh tôi thật sự xúc động về tuổi thơ của Bác ở nơi đây, chính mãnh đất này, con người, tình làng nghĩa xóm ở nơi đây đã ươm mầm và nuôi lớn người lãnh tụ vĩ đại của chúng ta. Tôi đã thu nhận được rất nhiều kiến thức, nhiều hình ảnh tư liệu về cuộc đời của Bác ở quê nội và quê ngoại, nó sẽ là hành trang phục vụ cho công việc giảng dạy bộ môn Lịch sử của tôi sau này.
Đoàn chúng tôi dừng lại ăn trưa tại thành phố Vinh. Và sau đó tạm biệt thành phố Vinh chúng tôi lên đường ra Hà Nội. Sau khi dừng lại ăn tối ở Hà Nam thì đến khoảng 21h30’ chúng tôi đã có mặt tại Hà Nội, vì đến Hà Nội vào buổi đêm nên khung cảnh ở thủ đô thật đẹp, lung linh với nhiều nhà cao tầng và xe cộ tấp nập hơn ở Huế rất nhiều. Đêm ấy chúng tôi nghỉ chân tại nhà nghỉ Hội nông dân Việt Nam ở quận Cầu Giấy.
v  Ngày 3 – 4 – 2014: Lăng chủ tịch Hồ Chí Minh, khi di tích ở phủ chủ tịch và Văn Miếu Quốc Tử Giám
Sáng hôm sau, ngày 3 – 4 – 2014 đoàn chúng tôi đến thăm Lăng Bác và di tích ở phủ chủ tịch. Sáng nay, trời se lạnh, có mưa nhẹ, chúng tôi đã dậy từ 5h00’ và 5h30’ xe chúng tôi xuất phát và khi vừa đến bãi đổ xe thì chúng tôi cũng đến kịp giờ để dự lễ thượng cờ ở Lăng Bác
Hình ảnh lễ Thượng cờ ở Lăng Bác
Mặc dù trời có mưa nhẹ nhưng không ảnh hưởng đến việc làm lễ, đứng trước Lăng Bác tôi thấy không khí thật trang nghiêm, tôn kính, tất cả mọi thứ đều diễn ra theo nghi thức một cách nề nếp, khuôn phép.
Và sau khi làm chúng tôi phải đợi một khoảng thời gian thì lúc đó mới được vào viếng Bác, chúng tôi tranh thủ chụp vài tấm hình lưu niệm tại đây.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, hay còn gọi là Lăng Hồ Chủ tịch, Lăng Bác, là nơi đặt thi hài của chủ tịch Hồ Chí Minh. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được chính thức khởi công ngày 2 tháng 9 năm 1973, tại vị trí của lễ đài cũ giữa Quảng trường Ba Đình, nơi mà ngày 2 tháng 9 năm 1945, Người đọc bản tuyên ngôn độc lập khai ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Lăng được khánh thành vào ngày 29 tháng 8 năm 1975. Lăng gồm 3 lớp với chiều cao 21,6 mét, lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp, lớp giữa là kết cấu trung tâm của lăng gồm phòng thi hài và những hành lang, những cầu thang lên xuống. Quanh bốn mặt là những hàng cột vuông bằng đá hoa cương, lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp. Ở mặt chính có dòng chữ: "Chủ tịch Hồ Chí Minh" bằng đá hồng màu mận chín. Trong di chúc, Hồ Chí Minh muốn được hỏa táng và đặt tro tại ba miền đất nước. Tuy nhiên, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III, với lý do "theo nguyện vọng và tình cảm của nhân dân", quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chí Minh để sau này người dân cả nước, nhất là người dân miền Nam, khách quốc tế có thể tới viếng.
Đến khoảng 7h30’ đoàn chúng tôi xếp thành 2 hàng và bắt đầu vào lăng viếng Bác Hồ. Cảm giác của tôi lúc này thực sự rất khó tả, xúc động bồi hồi, từ nhỏ thì tôi đã ước một lần được ra Hà Nội thăm Lăng Bác và hôm này nhờ có chuyến đi thực tế lịch sử Việt Nam tôi đã thực hiện được mong ước này. Khi bước vào Lăng tất cả mọi người đều im lặng, thành kính đứng trước đứng trước Bác – người cha già kính yêu  của dân tộc Việt Nam.
Sau khi vào Lăng viếng Bác xong chúng tôi đi thăm các địa điểm tham quan trong khu di tích Phủ Chủ tịch dưới sự chỉ dẫn của cô thuyết minh người Hà Nội.
Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, gọi tắt là Khu di tích Phủ Chủ tịch tại Hà Nội, là nơi sống và làm việc lâu nhất của Hồ Chí Minh (từ 19 tháng 12 năm 1954 đến 2 tháng 9 năm 1969). Khu đất này nguyên là phần đất phía tây bắc của Hoàng thành thuộc Kinh thành Thăng Long xưa. Khi Pháp xâm lược Việt Nam, sau khi chiếm xong miền Bắc đã chọn Hà Nội làm trung tâm đầu não cho toàn bộ Đông Dương và Phủ toàn quyền Đông Dương được xây dựng trên mảnh đất này. Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, nơi này được chọn là nơi làm việc của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước, đồng thời là nơi sống và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nơi đây cũng là nơi Người đã qua đời.
Tổng thể khu di tích rộng hơn 14 hécta, trong đó diện tích được xếp hạng là 22.000 m², bao gồm 16 công trình, công trình đã tồn tại lâu nhất là hơn 100 năm và gần nhất là hơn 40 năm. Một số công trình có giá trị lớn trong khu di tích:
-         "Nhà sàn Bác Hồ": phục chế theo nhà sàn, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở từ ngày 18 tháng 5 năm 1958 đến ngày 17 tháng 8 năm 1969. Ngôi nhà sàn này được dựng lại theo nguyên mẫu năm 1969, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Năm 1969, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã mua gỗ về làm một ngôi nhà sàn đồng dạng dựng trên nền cũ tại Hà Nội, còn nhà sàn gốc được cất giữ bảo quản trong kho.
-         Nhà 54, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và làm việc từ ngày 19 tháng 12 năm 1954 đến ngày 18 tháng 5 năm 1958. Sau khi chuyển về sống ở Nhà sàn, hàng ngày ông vẫn đến đây ăn cơm và sử dụng các phương tiện vệ sinh cá nhân.
-         Phòng họp Bộ Chính trị, nơi quyết định cuộc Tấn công và nổi dậy Xuân 1968.
-         Nhà 67, nơi họp Bộ Chính trị, cũng là nơi Hồ Chí Minh dưỡng bệnh và qua đời.
-         Giàn hoa Phủ Chủ tịch, nơi Hồ Chí Minh thường tiếp khách.
-         Nhà bếp A và nhà bếp B.
-         Nhà Thủ tướng.
-         Nhà ký sắc lệnh.
-         Đường Xoài: con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đi bách bộ sau giờ làm việc và tập thể dục buổi sáng.
-         "Đường mòn Bác Hồ": con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luyện tập với mong muốn có đủ sức vào thăm người dân miền Nam Việt Nam trong những năm cuối đời.
-         "Ao cá Bác Hồ" với diện tích 3.320 m², sâu 3 m, có nhiều loài cá được thả tại đây.
Phủ Chủ tịch tại Hà Nội, Việt Nam là nơi làm việc của Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tòa nhà nằm trong khuôn viên của khu Phủ chủ tịch, gần lăng Hồ Chí Minh và quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Đây cũng là nơi diễn ra lễ đón các nguyên thủ quốc gia hoặc người đứng đầu chính phủ đến thăm chính thức Việt Nam.
Hình ảnh Phủ Chủ tịch
Sau khi chiếm được Hà Nội vào năm 1883, người Pháp đã tiến hành xây dựng thành phố Hà Nội mới, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, trong đó có trụ sở Phủ toàn quyền Đông Dương, phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Phủ toàn quyền Đông Dương (có tên tiếng Pháp là Gouvernement Général de L'Indochine) do kiến trúc sư Charles Lichtenfelder thiết kế và được xây dựng trong những năm 1901-1906 với quy mô hoành tráng, uy nghiêm và quyền lực, tốn kém rất nhiều công sức và tiền của. Từ khi tòa nhà được hoàn thành đến ngày cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, đã có 29 đời Toàn quyền và Quyền Toàn quyền ở và làm việc. Tòa nhà là một trong những dinh thự lớn nhất được Pháp xây ở Đông Dương gồm 30 phòng, mỗi phòng có một phong cách trang trí khác nhau. Theo thiết kế ban đầu dành cho phủ Toàn quyền Đông Dương, mặt bằng của tòa nhà được thiết kế đối xứng, có một khối lớn ở giữa và hai khối ở hai bên. Tòa nhà này có hai tầng chính đặt trên một tầng đế, trên cùng là một tầng sát mái. Tầng đế là một tầng nửa hầm xây nổi, có kẻ mạch vữa giả đá thường thấy trong kiến trúc cổ điển Pháp, đặt các phòng phục vụ; tầng hai vốn là phòng khách, phòng làm việc và phòng đại tiệc. Tầng ba là những phòng riêng và nơi ở của toàn quyền. Giống nhiều kiến trúc thuộc địa Pháp cùng thời, nó có phong cách hoàn toàn Châu Âu. Yếu tố Việt Nam duy nhất trong khu vực là các cây xoài trồng ở vườn xung quanh. Trong 15 năm, từ năm 1945 đến năm 1969, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp trên 1000 đoàn đại biểu trong nước và ngoài nước. Đây cũng là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần đọc thơ chúc Tết đầu xuân nhân dịp năm mới.
Cây đa kiên trì tại khu di tích Phủ Chủ tịch
Hình ảnh cây đa kiên trì ở khu di tích Phủ Chủ tịch
Cây đa hơn 300 tuổi, đứng vững nhờ có 3 rễ cây kéo xuống mặt đất làm trụ vững cho cây. Phải mất 3 năm (1965 – 1968) thì mới kéo được rể đa đầu tiên xuống nên đất, sau khi hoàn thành xong nhiệm vụ thì các chiến sĩ đến báo công với Bác và Bác đã nói: “Trong cuộc sống hằng ngày cũng vậy, nếu các chú đã có mục đích ắt sẽ thành công”, lấy ý nghĩa của câu nói của Bác, các chiến sĩ đã đặt rễ đa này là rể đa kiên trì. Và sau khi nghe câu chuyện này thì em càng thấm thía hơn về bài học kiên trì, nếu có mục đích, mơ ước gì chúng ta kiên trì cô gắng thì sẽ đạt được mục đích mà mình mong muốn.
Nhà 54
Ngôi nhà Bác Hồ đã ở từ 1954 – 1958
Nhà 54 là nhà một công nhân thợ điện phục vụ cho Pháp trước kia, ngôi nhà này đã gắn bó với Bác trong 4 năm, và sau khi sang nhà sàn thì một ngày 3 lần Bác đều sang đây ăn cơm và sinh hoạt chung.
Nhà sàn là di tích trung tâm trong khu di tích Phủ Chủ tịch, là nơi gắn bó với Bác 11 năm (1958 – 1969). Đây cũng là nơi diễn ra nhiều cuộc họp quan trọng của Bác với Bộ Chính trị và các vị lãnh đạo, nơi ra nhiều quyết định quan trọng của đất nước.
Ngôi nhà sàn Bác Hồ
Tác giả thiết kế ngôi nhà sàn của Bác là kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh (1908-1975). Công trình được bắt đầu từ năm 1957 và khánh thành ngày 17/5/1958 chào mừng ngày sinh nhật Bác (19/5). Ngôi nhà này được làm bằng gỗ theo mô hình nhà sàn của đồng bào ta ở miền núi phía Bắc Ngôi nhà sàn Bác Hồ nằm kế bên một ao cá rộng, xung quanh là khu vườn xum xuê cây trái, với rất nhiều loài cây quý hiếm mà nhân dân từ mọi miền trên đất nước gửi tặng. Ở nơi đây, Bác trồng cây, nuôi cá sau giờ làm việc như một người lao động bình thường.
Nhà sàn Bác Hồ có khu vườn rộng sau Phủ Chủ tịch, có một con đường hẹp trải sỏi, hai bên trồng xoài dẫn tới một ngôi nhà sàn nhỏ nhắn bình dị, nằm giữa những vòm cây. Hàng rào dâm bụt bao quanh nhà, cổng vào kết bằng cành cây đan xen nhau. Nhà sàn Bác Hồ là ngôi nhà Bác Hồ ở và làm việc từ ngày 17/5/1958 cho tới khi Người qua đời. Sau nhà là vườn quả với hàng trăm loài cây quý do các địa phương đưa về trồng, như cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi biếu Bác năm 1954, bưởi Phúc Trạch, Biên Hòa, Mê Linh; cam Hải Hưng, Xuân Mai, Vân Du, Xã Ðoài; quýt Hương Cầm, Lý Nhân; táo Thiện Phiến, Ngọc Hồ; song mai Ðông Mỹ; hồng Tiên Ðiền. Trong vườn còn có cả những loại cây từ nước ngoài như ngàn hoa, cây bụt mọc quanh ao, cây cau vua gốc từ Caribê…
Nhà sàn Bác Hồ có tầng dưới là nơi Bác thường họp với Bộ Chính trị. Tầng trên là 2 phòng nhỏ, nơi Bác làm việc và phòng ngủ với những vật dụng đơn sơ giản dị. Trước nhà là ao cá Bác nuôi, bên bờ ao là các loài hoa phong lan nở quanh năm.Nhân dân ta từ mọi miền đất nước cũng như du khách quốc tế đến thủ đô Hà Nội, ai cũng muốn đến viếng Lăng, thăm nhà ở của Bác và đi dạo quanh quảng trường Ba Ðình lịch sử.

Phòng làm việc của Bác ở tầng 2
 Sau khi được đi thăm nhà sàn của Bác, nhìn thấy những kỷ vật gắn bó với cuộc sống đời thường của Bác, tôi càng yêu quý, kính trọng Bác nhiều hơn. Bác là người đứng đầu một đất nước nhưng có cuộc sống hết sức giản dị, mọi việc làm của Bác đều vì nước, vì dân, chưa một lần nào Bác vì chính bản thân mình. Qua đây tôi học hỏi được đức tính giản dị, chu đáo, luôn nghĩ cho mọi người của Bác Hồ.
Sau khi thăm những địa điểm trong khu di tích Phủ Chủ tịch đoàn chúng tôi được xem một đoạn video dài 16’ về những giây phút cuối cùng trước lúc Bác ra đi. Mặc dù đã được đọc nhiều sách, báo… nghe cô thầy mình kể nhưng khi được xem đoạn video này chúng tôi thực sự rất xúc động, không cầm nổi nước mắt của mình. Bác Hồ - người anh hùng của dân tộc Việt Nam, hình ảnh của Bác sẽ mãi mãi còn trong trái tim của những người con đất Việt.
Trong quần thể di tích ở Phủ Chủ tịch, chúng tôi còn đến thăm chùa Một Cột
Chùa Một Cột hay chùa Mật, còn có tên khác là Diên Hựu tự hoặc Liên Hoa Đài, đây là một ngôi chùa có kiến trúc độc đáo ở Việt Nam. Chùa được khởi công xây dựng năm 1049, dưới đời vua Lê Thái Tông.
Văn Miếu Quốc Tử Giám
Sau khi thăm quan xong khu di tích ở Phủ Chủ tịch, chúng tôi đi bộ khoảng 2km để đến thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám.

Cổng vào Văn Miếu
Văn Miếu Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội, nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long. Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám và vườn Giám, mà kiến trúc chủ thể là Văn Miếu - nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám có tường gạch vồ bao quanh, phía trong chia thành 5 lớp không gian với các kiến trúc khác nhau. Mỗi lớp không gian đó được giới hạn bởi các tường gạch có 3 cửa để thông với nhau (gồm cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên). Từ ngoài vào trong có các cổng lần lượt là: cổng Văn Miếu, Đại Trung, Khuê Văn Các, Đại Thành và cổng Thái Học. Với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước.           Văn Miếu được xây dựng từ năm (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông . Văn miếu ngoài chức năng thờ các bậc Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho, còn mang chức năng của một trường học Hoàng gia mà học trò đầu tiên là Thái tử Lý Càn Đức, con trai vua Lý Thánh Tông với Nguyên phi Ỷ Lan, lúc đó mới 5 tuổi, đến năm 1072 lên ngôi trở thành vua Lý Nhân Tông.
Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử). Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử. Năm Nguyên Phong thứ 3 1253, vua Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện cho mở rộng và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc. Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử. Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành. Năm 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám - cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình.
Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử giám lập tại Huế. Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu - Hà Nội. Như vậy vào đầu thời Nguyễn, Văn miếu Thăng Long đã một lần được sửa sang chỉ còn là Văn Miếu của trấn Bắc Thành, sau đổi thành Văn Miếu Hà Nội. Còn Quốc Tử Giám thì đổi thành học đường của phủ Hoài Đức và sau đó tại khu vực này xây đền Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử.
Khuê văn các do Tổng trấn Nguyễn Văn Thành triều Nguyễn cho xây dựng vào năm 1805. Gác Khuê Văn vốn là nơi xưa kia dùng để họp bình những bài văn hay của các sĩ tử đã thi trúng khoa thi hội. Gác nhỏ, kiến trúc giản dị nhưng tao nhã
Khu nhà bia tiến sĩ gồm có 82 tấm bia Tiến sĩ dựng ở hai bên phải trái của giếng Thiên Quang, mỗi bên 41 tấm dựng thành 2 hàng ngang, mặt bia đều quay về phía giếng. Cả hai bên, giữa mỗi vườn bia xây một tòa đình vuông, 4 mặt bỏ trống, nền cao, giữa nền có bệ, cửa đều trông thẳng xuống giếng. Tấm bia sớm nhất dựng vào năm 1484, khắc tên các vị tiến sĩ đỗ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1442) tấm cuối cùng dựng vào năm 1780, khắc tên các Tiến sĩ đỗ khoa Kỷ Hợi, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 40 (1779). Từ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 tới khoa cuối cùng là khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống năm thứ nhất 1787 tính cho đủ phải tới 124 khoa thi đình, nếu chỉ kể các khoa thi Tiến sĩ, không kể các khoa Đông Các và Chế khoa thì cũng phải 117 khoa, vậy nếu theo đúng điển lệ triều Hậu Lê thì phải lập đủ 117 tấm bia đề tên Tiến sĩ. Thế nhưng trải qua bao cơn binh lửa, vật đổi sao dời, số bia chỉ còn là 82 tấm.

Sau khi đi qua nhà bia tiến sĩ và giếng thiên quang, chúng tôi tiến vào không gian thứ ba, khu vực chính của di tích Quốc Tử Giám - Văn Miếu đó là cửa Đại Thành và khu điện thờ.
Cửa Đại Thành (cửa của sự thành đạt lớn lao), mở đầu cho khu vực của những kiến trúc chính, nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối, Thất thập nhị hiền v.v... và cũng là nơi giảng dạy của trường giám thời xưa, mang một cái tên đầy ý nghĩa tưởng không còn có thể chọn một tên nào có ý nghĩa hay hơn.
Bước qua cửa Đại Thành là tới một sân rộng mênh mang lát gạch Bát Tràng. Hai bên phải trái của sân là 2 dãy Hữu Vu và Tả Vu. Chính trước mặt là tòa Đại Bái Đường rộng rãi, to lớn và thâm nghiêm trải suốt chiều rộng của sân nối giáp với đầu hồi của Tả Vu, Hữu Vu 2 bên, tạo thành cụm kiến trúc hình chữ U cổ kính và thuyền thống. Sau Đại Bái Đường, song song với Đại Bái Đường là tòa Thượng Điện, có quy mô tương tự cả về chiều cao lẫn bề rộng. Đại Bái Đường nối với Thượng Điện bằng một Tiểu Đình hình vuông.
Bái đường Văn Miếu
Một số hình ảnh hiện vật ở nhà Bái Đường
Phía sau cùng của khu di tích là Khu Khải Thánh. Từ Văn Miếu sang đến Khải Thánh người ta có thể đi theo 2 con đường lát gạch phía sau Tả Vu và Hữu Vu, hoặc cũng có thể từ sau lưng Thượng Điện qua cửa tam quan. Nơi đây thờ Khổng Tử và 4 học trò suất sắc nhất của ông.
Đây là công trình xây dựng hoàn toàn mới do Trung tâm thiết kế tu bổ di tích - Bộ Văn hoá Thông tin thiết kế kỹ thuật, nằm trong công trình trùng tu khu Thái Học khởi công xây dựng ngày 13 - 7 - 1999.
Nhà Tiền đường 9 gian với 40 cột gỗ lim chống mái, đầu hồi xây tường bằng gạch 30x30x7cm mặt ngoài để trần không trát. Gian đầu hồi và gian thứ ba mặt trước, mặt sau đều có cửa bức bàn chấn song con tiện dẫn sang nhà Hậu đường.
Hậu đường là kiến trúc gỗ hai tầng, tầng 1 gồm 9 gian, 2 chái với 72 cột gỗ lim, trong đó 8 cột cái cao 11,5m đường kính 0,56m. Hai đầu hồi xây tường bằng gạch 30x30x7cm mặt ngoài cũng để trần không trát. Phía trước là cửa bức bàn chấn song con tiện, xung quanh là vách đố lụa. Gian đầu hồi mặt sau, gian thứ 3 và gian thứ 7 mặt trước là cửa sổ chấn song con tiện.
Tầng một là nơi tôn vinh Danh sư Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An và là nơi trưng bày về Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long và nền giáo dục Nho học Việt Nam giới thiệu khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu - Quốc Tử Giám cùng những giá trị sâu sắc của truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học, đề cao nhân tài, thừa kế và phát huy di sản văn hoá dân tộc.
Tầng 2 có 5 gian xung quanh là vách đố lụa, mặt trước có 5 cửa và mặt sau có 4 cửa để ra lan can phía trước và sau. Là nơi tôn thờ các danh nhân đã có công xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục Nho họccủa Việt Nam. Đó là các vị Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông.
Danh sư Chu Văn An                          Mô hình tổng thể Văn Miếu
Hình ảnh trên tầng 2 Hậu đường nhìn xuống
Sau khi đi thăm tổng thể khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám, tôi thấy đây là một công trình được xây dựng từ lâu nhưng rất đồ sộ, thiêng liêng nhất là đối với chúng tôi hiện đang còn đi học, đường nét hoa văn của công trình mang dấu ấn cổ xưa, đậm đà bản sắc dân tộc. Chính nơi đây là trường học đầu tiên của nước ta, là nơi đã đào tạo ra nhiều nhân tài cho đất nước. Tôi đã thu nhận được rất nhiều kiến thức bổ ích, nhiều tư liệutại đây.
Rời Văn Miếu, chúng tôi tiếp tục chuyến hành trình đi bộ 2km trở về Lăng Bác, lúc đó đã gần 11h30’. Chúng tôi ăn trưa và nghỉ chân một chút, trưa nay là bữa cơm đầu tiên chúng tôi ăn ở Hà Nội. Khoảng 13h30’, chúng tôi lên xe và tiếp tục cuộc hành trình của mình, điểm đến tiếp theo đó là Bảo tàng lịch sử quân sự.
Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là một trong 6 bảo tàng quốc gia và là bảo tàng đầu hệ của hệ thống bảo tàng quân đội. Bảo tàng hiện đang trưng bày và lưu giữ gần 16 vạn hiện vật, trong đó có nhiều hiện vật quý, đặc biệt là 2 bảo vật quốc gia (Máy bay MIC21 số hiệu 5121 và xe tăng T54B số hiệu 843). Trong khuôn viên Bảo tàng còn có di tích Cột cờ Hà Nội, đây là di tích kiến trúc cổ độc đáo, đã được xếp hạng di tích kiến trúc lịch sử quốc gia năm 1990.

Tầng một của bảo tàng: Trong tầng một của khu bảo tàng có 3 gian phòng: Phòng đầu tiên nói về quân đội từ thời kỳ các vua Hùng đến khi Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938. Phòng ở giữa có tượng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các hình ảnh trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1858-1945). Phòng cuối nói về các cuộc chiến đấu từ nhà Lý đến nhà Nguyễn.
Hiện vật trong phòng thứ nhất:
        Các hiện vật ở phòng cuối
 Lược đồ trận đánh trên sông Như Nguyệt chống quân Tống lần 2
Ấn tượng đầu tiên của tôi khi bước vào bảo tàng đó là nhìn thấy trực tiếp những chiếc máy bay, xe tăng, xe bọc thép, pháo… của bộ đội ta được trưng bày ngoài trời. Mặc dù học lịch sử nhưng đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy những chiếc máy bay, trực thăng to như thế này, bình thường tôi chỉ được nhìn thấy trong sách hay tivi mà thôi. Thật là vĩ đại, càng nhìn tôi càng cảm phục các thế hệ cha anh đã đi trước, họ đã dũng cảm, gan dạ chiến đấu vì độc lập, hòa bình cho dân tộc. Chúng tôi thật sự may mắn khi sinh ra thì đất nước đã hòa bình, độc lập.
Đúng 15h, đoàn chúng tôi rời bảo tàng trở về nhà nghỉ, kết thúc một ngày học tập. Hôm nay, thực sự là một ngày học tập rất có ý nghĩa, tuy hơi mệt một tí nhưng đổi lại tôi đã thu được nhiều bài học quý báu, nhiều kiến thức và nhiều tư liệu để phục vụ cho việc học sau này.
 Ngày 4 – 4 – 2014: Bảo tàng lịch sử quốc gia
Bảo tàng lịch sử quốc gia là nơi lưu giữ những hiện vật, phản ánh các nền văn hóa, lịch sử dựng nước và giữ nước của người Việt Nam từ thuở ban đầu khai sáng đến ngày ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam được thành lập ngày 3 tháng 9 năm 1958 trên cơ sở kế thừa Bảo tàng Louis Finot do người Pháp xây dựng năm 1926 và hoạt động vào năm 1932.
Hệ thống trưng bày chính của bảo tàng - cuốn sử sống của dân tộc Việt Nam từ thời Tiền sử (cách ngày nay khoảng 30 - 40 vạn năm) đến ngày nay. Với diện tích trưng bày gần 4.000 m2, với khoảng 10.000 tư liệu hiện vật, hệ thống trưng bày chính của bảo tàng được thể hiện theo nguyên tắc trưng bày niên biểu, lấy sự phong phú của sưu tập hiện vật làm ngôn ngữ biểu đạt chính, kết hợp giữa trưng bày phản ánh giai đoạn và sự kiện lịch sử.
Hệ thống kho cơ sở của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện lưu giữ hơn 150.000 tiêu bản hiện vật, gồm nhiều chất liệu, nhiều sưu tập, hiện vật quý hiếm: Sưu tập hiện vật thuộc các nền văn hóa Núi Đọ, Hòa Bình - Bắc Sơn, Sưu tập văn hóa Đông Sơn, Sưu tập gốm men cổ Việt Nam, Sưu tập điêu khắc đá Chămpa, Sưu tập đồ đồng thời Lê - Nguyễn, sưu tập hiện vật về các nhân vật cách mạng giai đoạn 1920- 1945, giai đoạn 1945- 1954, sưu tập hiện vật về Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, sưu tập hiện vật về Cách mạng Tháng Tám, sưu tập báo chí cách mạng, sưu tập truyền đơn bí mật, sưu tập cờ, sưu tập huân huy chương, sưu tập tặng phẩm của nhân dân Việt Nam và thế giới tặng Chủ tịch Hổ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước, sưu tập vũ khí tự tạo, sưu tập các kỷ vật của các Anh hùng, liệt sĩ…
          Ngày 5 – 4 – 2014 đoàn chúng tôi đi thăm Bảo tàng dân tộc học Việt Nam
   Bảo tàng dân tộc học Việt Nam là một viện bảo tàng về lĩnh vực dân tộc học của Việt Nam, trực thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Nghiên cứu khoa học về các dân tộc Việt Nam, sưu tầm, phân loại, đánh giá, bảo quản, phục chế, trưng bày, giới thiệu và khai thác những giá trị lịch sử - văn hóa của các dân tộc. Ý định xây dựng Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được hình thành từ năm 1981. Ngày 14 tháng 12 năm 1987, công trình Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được chính thức phê duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật với diện tích xây dựng 2.500m² (1987), 9.500m² (1988) và toàn bộ 3,27 ha (1990). Ngày 24 tháng 10 năm 1995, Viện Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam chính thức được thành lập. Bảo tàng khánh thành vào ngày 12 tháng 11 năm 1997.

Kiến trúc của bảo tàng gồm ba khu trưng bày chính:
·   
Khu trưng bày trong tòa Trống Đồng: không gian trưng bày thường xuyên giới thiệu 54 dân tộc ở Việt Nam trải rộng trên 2 tầng của toàn nhà; 2 không gian giành cho các trưng bày nhất thời, luôn luôn được đổi mới tuỳ theo chủ đề trưng bày

·   Khu trưng bày ngoài trời: là một vườn cây xanh trong đó có 10 công trình dân gian với các loại hình kiến trúc khác nhau.
·   Khu trưng bày Đông Nam Á: Khởi công xây dựng vào năm 2008           Một số hình ảnh ở bảo tàng dân tộc học
Ngoài ra là khu vực cơ quan: cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ thống kho bảo quản hiện vật...

Sau 3 ngày ở lại Hà Nội, đi thăm Lăng Bác, khu di tịch Phủ Chủ tịch. Sáng 6 – 4 – 2014, đoàn chúng tôi lên Tuyên Quang. Và tiện đường nên chúng tôi có ghé thăm Đền Hùng ở Phú Thọ.
Đền Hùng là thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với lễ hội Đền Hùng được tổ chức tại địa điểm đó hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Hiện nay, theo các tài liệu khoa học đã công bố đa số đều thống nhất nền móng kiến trúc đền Hùng bắt đầu được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng trị vì. Đến thời Hậu Lê (thế kỷ 15) được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện tại.
Cổng lên khu di tích Đền Hùng
Khu di tích lịch sử đền Hùng bao gồm bốn đền chính là đền Hạ, đền Trung, đền Thượng và đền Giếng. Từ những bậc đầu tiên dưới chân núi, du khách sẽ qua cánh cổng, bước nhiều bậc đá lên thắp hương và thăm thú các đền, kết thúc tại đền Thượng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh, nơi có lăng mộ vua Hùng thứ 6.
Lễ hội đền Hùng còn gọi là Giỗ tổ Hùng Vương là một lễ hội lớn mang tầm vóc quốc gia ở Việt Nam, tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng, những vị vua đầu tiên của dân tộc. Lễ hội diễn ra vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, tuy nhiên, lễ hội thực chất đã diễn ra từ hàng tuần trước đó với những phong tục như đâm đuống (đánh trống đồng) của dân tộc Mường, hành hương tưởng niệm các vua Hùng, và kết thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lịch với lễ rước kiệu và dâng hương trên đền Thượng. Lễ hội đền Hùng hiện được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namnâng lên thành giỗ quốc Tổ tổ chức lớn vào những năm chẵn.

Có 2 lễ được cử hành cùng thời điểm ngày chính hội:
Lễ rước kiệu vua: Đám rước kiệu với màu sắc sặc sỡ của bạt ngàn cờ, hoa, lọng, kiệu, trang phục truyền thống xuất phát từ dưới chân núi rồi lần lượt qua các đền để tới đền Thượng, nơi làm lễ dâng hương. Đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá dưới những tán lá cây để tới đỉnh núi Thiêng.
Lễ dâng hương: Người hành hương tới đền Hùng chủ yếu vì nhu cầu của đời sống tâm linh. Mỗi người đều thắp lên vài nén hương khi tới đất Tổ để nhờ làn khói thơm nói hộ những điều tâm niệm của mình với tổ tiên. Trong tâm hồn người Việt thì mỗi nắm đất, gốc cây nơi đây đều linh thiêng và chẳng có gì khó hiểu khi nhìn thấy những gốc cây, hốc đá cắm đỏ những chân hương.
Tượng đài chiến thắng sông Lô
Thắng lợi trên mặt trận sông Lô đã làm nức lòng nhân dân cả nước. Khí thế hào hùng của dân tộc ta bật dậy, cổ vũ toàn dân ta quyết tâm kháng chiến thắng lợi. Thắng lợi này chẳng những đã góp phần bẻ gãy gọng kìm bao vây phía Tây căn cứ địa Việt Bắc của Pháp, mà còn tác động mạnh vào việc phá tan kế hoạch tấn công mùa đông của địch. Âm mưu thâm độc của kẻ thù nhằm tiêu diệt quân chủ lực của ta, phá vỡ căn cứ địa cách mạng Việt Bắc và tiêu diệt cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến đã hoàn toàn bị sụp đổ. Sau chiến thắng sông Lô hàng loạt chiến thắng khác của quân và dân Việt Bắc nối tiếp nhau đã giáng cho kẻ thù những đòn chí tử. Cục diện chiến trường chuyển sang giai đoạn mới: Ta từ phòng ngự chuyển dần sang cầm cự và tích cực tổng phản công; địch lúng túng, bị động và thất bại.

Chiến thắng sông Lô khẳng định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh do Đảng ta chủ trương và lãnh đạo là hoàn toàn đúng đắn. Đó còn là sự sáng tạo trong nghệ thuật chiến tranh của quân và dân ta, biết kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc.
Chiến thắng sông Lô là chiến thắng đầu tiên của quân và dân Phú Thọ trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954); đã gắn với những tên đất, tên làng như: Chí Đám, Sóc Đăng, Phan Lương, Khoan Bộ, Đoan Hùng... “Chiến thắng Đoan Hùng đã giành được thắng lợi: Tiêu diệt được nhiều địch, thu được nhiều vũ khí, tinh thần chiến đấu của bộ đội địa phương, dân quân du kích được nâng cao, dân chúng tin tưởng tiền đồ cuộc kháng chiến”.
Chiều đó, sau khi đi thăm tượng đài chiến thắng sông Lô, chúng tôi tiếp tục lên xe để lên Tuyên Quang. Khoảng hơn 4h00’ xe chúng tới nơi, tối đó chúng tôi nghỉ tại nhà khách công đoàn Tuyên Quang.
Ngày 7 – 4 – 2014, đoàn chúng tôi đi thăm khu di tích lịch sử Tân Trào với các địa điểm là Lán Nà Nưa, cây đa Tân Trào, Đình Tân Trào, Đình Hồng Thái.
Lán Nà Nưa ở lưng chừng khu rừng Nà Nưa. Rừng này nguyên có tên là Nà Nưa (tiếng Tày nghĩa là ruộng trên). Rừng Nà Nưa cách làng Tân Lập hơn 1 cây số về phía đông, dưới chân dãy núi Hồng. Dòng suối Khuôn Pén từ núi Khau Nhì chảy qua một mé rừng. Về đến Tân Trào, Bác Hồ ở trong làng với gia đình ông Nguyễn Tiến Sự chừng hơn một tuần. Sau đó Bác chuyển lên ở lán để giữ bí mật và tiện làm việc.  Đây là một căn lán nhỏ, nằm ở sườn núi Nà Lừa, cách làng Tân Lập gần 1 km về hướng đông, lán được dựng bằng tre theo kiểu nửa sàn, nửa đất của người miền núi, dưới các đám cây rậm rạp. Lán do đơn vị giải phóng quân dựng để Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc từ tháng 6 năm 1945 đến cuối tháng 8 năm 1945. Lán Nà Lừa có hai gian nhỏ, gian bên trong là nơi Người nghỉ ngơi, còn gian ngoài là chỗ Bác làm việc và tiếp khách. Tại đây, ngày 4 tháng 6 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghịcán bộ để củng cố căn cứ địa cách mạng, thành lập Khu giải phóng và Quân giải phóng, chuẩn bị Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội.
Cây đa Tân Trào cách đình Tân Trào khoảng 500 mét về phía Đông. xem trên bản đồ tại đây. Dưới bóng cây đa này, chiều 16 tháng 8 năm 1945, Việt Nam Giải phóng quân đã làm lễ xuất quân trước sự chứng kiến của nhân dân Tân Trào và 60 đại biểu. Võ Nguyên Giápđọc bản Quân lệnh số 1 và ngay sau đó hành quân về giải phóng 
Đình Tân Trào là một đình nhỏ được xây dựng vào năm 1923 theo kiểu nhà sàn, cột gỗ, ba gian hai chái, mái lợp lá cọ, sàn lát ván, để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và là nơi hội họp, sinh hoạt văn hoá của dân làng. Đình thờ 8 vị thành hoàng làng đại diện cho các thần sông, thần núi của làng Tân Lập, xã Tân Trào. Dưới mái đình này, ngày 16 tháng 8 năm 1945 đã họp Quốc dân Đại hội để quyết định lệnh tổng khởi nghĩa, 10 chính sách lớn quy định quốc kỳ, quốc ca và cử ra một chính phủ lâm thời.
Đình Hồng Thái cách đình Tân Trào gần 1 km trên đường đi Sơn Dương, đình được xây dựng tại địa phận của làng Cả, xã Tân Trào. Năm 1919, đình có tên là đình Làng Cả hay đình Kim Trận. Đình Hồng Thái còn là trạm giao liên và là nơi huấn luyện quân sự trong suốt thời kỳ kháng chiến. Đình còn là điểm dừng chân của các đại biểu toàn quốc về dự Quốc dân Đại hội, là trạm thường trực của "An toàn khu của Trung ương đóng ở Tân Trào".

Sau khi đi thăm di tích Tân Trào thì khoảng 11h00’ chúng tôi trở về nhà khánh để nghỉ trưa, buổi chiều hôm đó chúng tôi được nghĩ. Để chuẩn bị cho ngày mai trở về Vinh.
Ngày 8 – 4 – 2014, hôm nay chúng tôi sẽ đi từ Tuyên Quang về Vinh, là một đoạn đường rất dài, buổi trưa chúng tôi có dừng lại ở Hà Nam ăn trưa.
Ngày 9 – 4 – 2014, hôm nay là ngày cuối cùng của chuyến đi thực tế, trên đường trở về Huế, chúng tôi có đi thăm Ngã Ba Đồng Lộc và Viếng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Ngã Ba Đồng Lộc là di tích lịch sử gắn liền với của 10 nữ thanh niên xung phong trong chiến tranh Việt Nam. Ngã Ba Đống Lộc thuộc xã Đồng Lộc, huyện Can Lộc, tĩnh Hà Tĩnh, nằm trên con đường mòn Hồ Chí Minh xuyên qua dãy Trương Sơn, là giao điểm quốc lộ 15A và tỉnh lộ 2 của Hà Tĩnh. Đây là một trong những điểm giao thông quan trọng trong chiến tranh cho nên quân đội Hoa Kỳ đã tập trung nhiều máy bay thả bom nhằm cắt đứt đường tiếp tê của miền Bắc vào cho chiến trường miền Nam.
Nơi đây có tiểu đội thanh niên xung phong có nhiệm vụ canh giữ giao điểm, phá bom và sữa đường thông xe. Tiểu đội 4 gồm 10 nữ thanh niên, từ 17 đến 24 tuổi. Trưa ngày 24 – 7 – 1968, như mọi ngày 10 cô gái ra lam nhiệm vụ. 16h30’, trận bom thứ 15 trong ngày dội xuống Đồng Lộc, 1 quả bom rơi xuống ngay sát miệng hầm, nơi 10 cô gái đang tránh bom. Tất cả các chị đều hi sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, còn nhiều ước mơ, khát vọng muốn đóng góp sức mình cho Tổ Quốc.
Mộ Đại Tướng Võ Nuyên Giáp
Sau khi rời Hà Tĩnh, chúng tôi tiến tới địa phận Quãng Bình và ở đó chúng tôi đã ghé vào viếng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp    
KẾT LUẬN
Bài thu hoạch trên đây chính là kết quả của chuyến đi thực tế lịch sử ở các tỉnh miền Bắc của tôi. Qua chuyến đi thực tế lần này, tôi đã được đến thăm nhiều di tích lịch sử, tận tay sờ vào các hiện vật điều mà trước giờ tôi chỉ biết được qua sách vở, báo chí, ti vi. Đây là lần đầu tiên tôi ra Bắc nên tôi đã được mở rộng tầm mắt của mình, thực sự đất nước Việt Nam mình rất đẹp, con người Việt Nam anh hùng và dũng cảm trong công cuộc xây dựng đất nước và chống giặc ngoại xâm.
Mỗi một điểm tham quan, học tập đều cho tôi nhiều kiến thức, hình ảnh tư liệu. Và mỗi một nơi tôi có một cảm xúc khác nhau, cảm thấy tự hào và kính phục những người đã đi trước đã xây dựng, bảo vệ đất nước Việt Nam. Ở Nghệ An, tôi đến thăm quê ngoại và quê nội của Bác Hồ, tôi thật sự xúc động khi xem lại những kỷ vật gắn liền với tuổi thơ của Bác, đơn sơ, mộc mạc, giản dị thôi nhưng chính mãnh đất đó đã ươm mầm và nuôi lớn Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Khi ra Hà Nội, ở lại đó 3 ngày, tôi được đi đến nhiều nơi nhưng có lẻ ấn tượng sâu sắc nhất đối với tôi đó là nhà sàn Bác Hồ. Ngôi nhà nhỏ, đơn sơ nằm khiêm tốn trong dưới những tán lá xanh trong khu vườn Phủ Chủ tịch, ngôi nhà là biểu tượng của phong cách và lối sống giản dị của Bác. Ở Hà Nội, tôi còn được đi tham quan bảo tàng lịch sử quân sự, bảo tàng lịch sử quốc gia, bảo tàng dân tộc học. Mỗi bảo tàng là một nguồn kiến thức vô tận, nguồn tư liệu vô cùng quý giá và ở đó cũng là minh chứng cho quá trình xây dựng đất nước từ thời Văn Lang, thấy nét truyền thống của 54 dân tộc…
Rời Hà Nội, chúng tôi đi Phú Thọ tham quan Đền Hùng. Đây là lần đầu tiên tôi được về đất tổ, về lại với cội nguồn của dân tộc ta, tôi càng biết ơn sâu sắc hơn công lao lập nước của các vị vua Hùng. Lên Tuyên Quang, tôi đi tham quan di tích lịch sử Tân Trào, tôi biết được nơi Bác đã làm việc và hoạt động ở Tuyên Quang, thấy được những khó khăn, vất vã của nhân dân ta trong những năm tháng kháng chiến, dù khó khắn đến đâu họ vẫn không nản chí, quyết tâm giành độc lập đến cùng để hôm nay chúng ta có được một đất nước hòa bình, độc lập, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mỗi khi rời các điểm khảo sát, tham quan tôikhông khỏi để lại bao luyến tiếc trong 
lòng, vì thế  tôi thầm hứa với lòng mình là cố gắng học tập hết mình để có thể góp một phần công lao nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng đất nước, hưa sẽ gìn giữ và phát triển hơn nữa những thành quả mà cha ông đi trước đã để lại cho chúng tôi.
Chính nhờ chuyến đi thực tế này, tôi đã thu được nhiều kiến thức, tư liệu cần thiết cho quá trình học tập và sau này ra đi dạy. Tôi cũng học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ các thầy cô giáo và các bạn trong việc tổ chức lớp, dẫn đoàn, điều khiển một tập thể… các kỹ năng sư phạm của tôi được bồi dưỡng và vun đắp thêm. Qua chuyến đi, lớp chúng tôi cũng đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ nhau nhiều hơn. Một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến lãnh đạo nhà trường, ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô giáo dẫn đoàn, các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử đã tạo mọi điều kiện và tận tình giúp đỡ để tôi có một chuyến đi thực tế thành công, bổ ích, lý thú.